Thơ thế nào là hay? HUỲNH THÚY KIỀU

By Huỳnh Thúy Kiều

alt

 

Thơ thế nào là hay?

HUỲNH THÚY KIỀU 


alt

 

       Câu hỏi này đã đang và sẽ cứ tiếp tục treo lơ lửng trên đầu bất kỳ ai từ những nhà thơ nổi tiếng đến người vừa cầm bút. Đã có hàng ngàn người trả lời trả lời ngay khi loài người có thơ thơ song hành cùng với loài người. Tuy vậy nếu quy ra thành mẫu số chung thì lại rất khó có một định nghĩa làm thỏa mãn tất cả mọi người.

       Nhà thơ Lưu Trọng Lư cho rằng: "Một câu thơ hay là một câu thơ có sức gợi”. Một câu thơ có sức gợi có thể tạo ra muôn ngàn cách nghĩ dường như rất khó đọc hết một câu thơ một bài thơ hay. Một trong những bài thơ theo tôi hay nhất trong thơ Việt Nam hiện đại là bài Tiếng Thu. Đây cũng là bài thơ rất giàu sức gợi gợi từng câu từng chữ. Hồn vía nhà thơ đã hòa nhập vào từng con chữ biến ảo mà thành ảnh thành thơ. Từng câu thơ cho người đọc nghe được âm thanh quạnh hiu và có nhiều liên tưởng. Sự liên tưởng này tùy theo tình cảm của từng người và cả từng lúc từng nơi từng tâm trạng tạo nên sự phong phú lạ thường.

       Nhưng tôi đã đọc có câu thơ bài thơ cũng chẳng phải gợi mà lại  nhập tự nhiên vào tâm thức người đọc. Đó là trường hợp Màu tím hoa sim của nhà thơ Hữu Loan. Ông cứ tự sự như kể chuyện có sao kể vậy không hoa lá thêm thắt gì những hình ảnh và ngôn ngữ rất đỗi quen thuộc. Khi bài thơ kết thúc ta mới thấy toàn bộ nỗi đau của nhà thơ trước sự mất mát của người vợ trẻ. Ý thơ được giấu tận cùng và bung ra nhưng không bi lụy. Bài thơ là tấm gương mà bất kỳ ai soi vào cũng thấy mình trong đó.

       Nếu gợi là đúng thì cũng phải chấp nhận chân thành cũng không sai. Nhưng bí ẩn của thơ cũng không chỉ có thế. Nhà thơ Tố Hữu cho rằng: “Thơ là chuyện đồng điệu”. Khi khác ông lại nói: "Thơ chỉ bật ra trong tim ta khi cuộc sống đã tràn đầy”. RaxunGamzatop rất có lý khi ông nói: “Anh có thể viết chừng nào cảm thấy không thể không viết”. Nhà thơ Xuân Diệu cho rằng:“Thơ là tiếng gọi đàn.” Có lúc ông lại nghĩ: “Thơ là bà chúa của nghệ thuật”. Thơ hay hoàn hảo đến mức không có bất kỳ vết gợn nào. Sự hoàn hảo bắt đầu từ những con người có tâm hồn đặc biệt. Có phải vì thế mà nhà thơ Chế Lan Viên viết: “Thi sĩ không phải là Người nó là Người Mơ Người Say Người Điên. Nó là Tiên là Ma là Quỷ...”

       Chỉ nghe ý kiến của những nhà thơ có vị trí đặc biệt trong nền thơ hiện đại Việt Nam cũng thấy muốn hiểu thế nào là thơ hay thật khó. Tôi rất thấm với ý kiến sâu sắc của nhà thơ Thạch Quỳ khi ông cho rằng: Thơ cao hơn tất cả mọi nhận thức về thơ.

       Thơ là gì thơ là ai nó ở trong hay ngoài nhà thơ? Nếu không có những vui buồn trong cuộc sống với nhà thơ nếu trong trái tim nhà thơ không còn sự rung động liệu nhà thơ có thơ không? Sau tất cả những vui buồn đã gặp đã ăn sâu vào tiềm thức của nhà thơ nhà thơ đặt bút viết bài thơ tự nhiên chảy một mạch liền. Khi nhà thơ viết xong bài thơ tôi có cảm giác nhà thơ như người mẹ trẻ đi ra từ nhà hộ sinh trên tay bế đứa con vừa mới chào đời. Lòng bỗng nhẹ nhõm và tràn ngập niềm vui. Thơ đòi hỏi sự trải nghiệm bao nhiêu thì thơ lại đòi hỏi phải tươi non bấy nhiêu. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ thơ đã làm tròn bổn phận vinh quang đã tạo ra những bài thơ hay những thế hệ nhà thơ xứng đáng với lịch sử dân tộc. Những chi tiết thơ từ thực tiễn kháng chiến đã vào thơ đẩy thơ Việt Nam lên một tầm cao mới. Vì thực tiễn phù hợp với lịch sử mà thơ Việt Nam âm vang một niềm kiêu hãnh hướng về phía trước với niềm tin vô hạn. Tất cả sức mạnh của dân tộc Việt Nam đã được huy động tạo cho thơ một thời đại không phải bao giờ cũng có. Có lẽ vì thế mà các nhà thơ thời thơ mới như Xuân Diệu Huy Cận Chế Lan Viên… đã chuyển mình kịp thời cùng với các nhà thơ lớn lên cùng kháng chiến: Tố Hữu Nguyễn Khoa Điềm Hồng Nguyên Nguyễn Đình Thi Chính Hữu Trần Hữu Thung Lê Anh Xuân Phạm Tiến Duật Bằng Việt Hữu Thỉnh Nguyễn Duy Thạch Quỳ Xuân Quỳnh Nguyễn Trọng Tạo… và rất nhiều nhà thơ khác tạo nên đội ngũ các nhà thơ cách mạng hùng hậu.

       Nếu thơ mới (1930-1945) đã vượt qua quá khứ trì trệ và  góp phần đào tạo ra thế hệ các nhà thơ kháng chiến thì chính thơ kháng chiến đã làm mẫu mực cho những người cầm bút thế hệ sau. Thơ kháng chiến không tạo ra thêm những thể loại mới nhưng nó có công rất lớn trong việc đưa ngôn ngữ mới vào thơ. Ngôn ngữ ấy là của nhân dân lao động những ngưới lính cầm súng góp phần tạo ra. Các nhà thơ đã thuần dưỡng và sử dụng một cách rất hồn nhiên. Thơ cổ vũ nhân dân và đến lượt nhân dân đón đọc và cổ vũ làm cho thơ Việt Nam không ngừng phát triển và tươi mới. Sự cộng hưởng giữa thơ với người đọc tạo nên một bức tranh sinh động và huyền ảo góp phần làm phong phú hơn vẻ đẹp tinh thần của con người.

       Thơ là cảm xúc dâng tràn nhưng cảm xúc nào cũng chứa đựng nội dung. Nội dung hay hình thức đều bắt đầu từ cảm xúc mà hiện hình lên. Những hình thức mà các nhà nghiên cứu phát hiện không thể bao trùm hết thơ. Thơ bao giờ cũng muốn bứt tung ra ngoài các hình thức đã được khái quát. Thơ là riêng biệt. Thơ trừu tượng khái quát bằng hình tượng nên không thể lấy sự cảm nhận của người đọc này áp đặt thành sự rung động cho người đọc khác. Thơ hay còn cần thiết chờ đợi sự kiểm nghiệm qua thời gian và qua nhiều thế hệ tiếp nối khác nữa. Tất cả những nhà thơ lúc nào cũng hồi hộp cùng những bài thơ của mình đi trên cầu dẫn đến phía cuối đường nơi có cánh cửa cuối cùng. Không phải bài thơ nào cũng qua được và nếu qua được cánh cửa vô hình ấy thơ sẽ tồn tại và đó chắc chắn là thơ hay. Có người cho rằng thơ có thể một thời và thơ hay mới của nhiều thời! Nói thế nào là thơ hay khi trả lời tôi sợ chủ quan trước “ban giám khảo” quá khó tính đó là thời gian và công chúng.

       Lớp trẻ chúng tôi thật may mắn khi lớn lên thơ Việt Nam đã có bề dày lịch sử đầy đặn đã tạo nên một vườn hoa tỏa nhiều hương sắc. Lịch sử văn học nói chung và riêng thơ rất công bằng khi đòi hỏi thơ phải vượt lên khẳng định mình thì chính cuộc sống cũng tạo ra tiền đề để các nhà thơ tài năng có cơ hội bứt phá. Các nhà thơ trong hai cuộc kháng chiến  thực tiễn thời ấy cũng tạo ra các điều kiện để họ vượt lên khẳng định mình cao hơn xa hơn. Đó là đất nước có chủ quyền và tiến hành hai cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc. Và như trên tôi đã nói những nhà thơ kháng chiến đã thành công kế tục phát triển xứng đáng với nền thơ Việt Nam hiện đại mà thơ mới đã mở đường.

       Mang trong mình niềm tin đã được kiểm chứng đó tôi nghĩ về thơ của các nhà thơ trẻ hiện nay. Nếu các nhà thơ kháng chiến đắm mình trong các cuộc chiến đấu với mục tiêu giành độc lập dân tộc thì các nhà thơ trẻ hiện nay lại đắm mình vào cuộc chiến khác cuộc chiến thoát nghèo vươn lên giàu có trong nền kinh tế thị trường. Trong giai đoạn đất nước mò mẫm tìm đường đi đời sống khó khăn thơ cũng mất mùa. Nhưng sau 1986 thơ Việt Nam đã có khởi sắc và vượt lên phải kể từ các nhà thơ Nguyễn Quang Thiều Tuyết Nga Mai văn Phấn Dương Thuấn Phạm Thị Ngọc Liên Trương Nam Hương… Trong thơ họ tính khái quát khá cao. Bước qua lối mòn của thơ vần điệu mà vươn lên nhạc điệu. Hình thức thơ vượt qua các thể loại đã mòn tạo ra hình thức thể hiện mới hơn. Ngôn ngữ dày đa vỉa tầng đọc phải suy ngẫm. Cái hay của thơ thời kinh tế thị trường thường nằm sâu hơn. Có người cho thơ dễ nhớ dễ thuộc như một đặc điểm vốn có của thơ. Tôi nghĩ không hẳn như vậy. Ngày nay càng thấy rõ vì cuộc sống không chỉ một mục tiêu mà nhiều mục tiêu. Thực tiễn mở ra rộng lớn tình cảm con người phức tạp hơn nhiều lần. Thơ phải khái quát các tình cảm trừu tượng bằng các hình tượng vừa thực vừa mơ phải thuần dưỡng ngôn ngữ mới còn nhiều xa lạ. Thơ các nhà thơ trẻ không thể dễ thuộc như xưa.

       Nói đến thơ hay là phải nói tới người đọc hay. Thời thơ mới được đón nhận từ những người trẻ tuổi trong số đó đa phần là học sinh sinh viên thanh niên. Thơ kháng chiến dường như toàn dân đọc nhưng trước hết vẫn là những người trẻ tuổi đang hướng về cuộc chiến đấu. Thơ mới và thơ kháng chiến ăn sâu vào tâm trí người đọc đến mức nhiều bạn đọc an nhiên thơ là như thế! Người đọc thơ vài chục năm nay bị ảnh hưởng quá khứ quá nhiều nên ít đọc thơ các nhà thơ trẻ. Ngay một số ít nhà thơ thành danh cũng chưa thoát ra khỏi thơ truyền thống nên đọc thơ mới theo mắt cũ. Khi thế giới các nước nương tựa vào nhau hội nhập thì thẩm mỹ thơ đang có nhiều thay đổi. Hội thơ rằm Nguyên tiêu hàng năm thả thơ lên trời dư luận  năm nào cũng còn nhiều ý kiến. Điều này cho thấy thơ hay còn nhiều quan niệm khác nhau. Tuy vậy xu hướng đang dần tiến bộ. Tôi tin thơ trẻ sẽ đến lúc chiếm lĩnh thi đàn vì nó vừa biết kết hợp hài hòa những ưu điểm vượt trội của các thế hệ cầm bút đi trước vừa bứt phá mạnh mẽ táo bạo nên nhanh chóng đáp ứng được nhu cầu đọc của lớp trẻ. Tuy nhiên trong thơ trẻ hiện nay có khá nhiều tác giả viết quá bế tắc trong cách nhìn. Họ chưa nhận thức được con người cụ thể có thể bế tắc nhưng cuộc sống thì không. Bản chất cuộc sống luôn tự tìm được đường đi những cái nhìn bế tắc không phù hợp với cuộc sống. Cuộc sống phát triển rất nhanh cái mới bị cũ đi nhanh chóng. Con người đang tập trung cho cái ăn cái mặc chừng mực nào đó nhiều người chưa quan tâm nhiều đến thơ.

      Thơ trẻ có hay không? So với những người trẻ tuổi làm thơ hiện nay thì những nhà thơ trẻ có thơ hay chưa nhiều. Nhưng nếu đọc kỹ sẽ thấy thơ trẻ có nhiều phát hiện mới lạ táo bạo trong hình ảnh và hình thức thể hiện. Thơ trẻ phần lớn vượt qua thơ vần điệu để đến với những câu thơ có nhạc. Ngôn ngữ thơ mới được thuần dưỡng cần có thời gian chiêm nghiệm. Đã hiện hình lên những khuôn mặt mới từ nhiều vùng trong cả nước bước đầu được công chúng quan tâm: Đinh Thị Như Thúy Lê Vĩnh Tài Phan Huyền Thư Trần Tuấn Nguyễn Phan Quế Mai Trịnh Sơn Nguyễn Đăng Khương Trương Trọng Nghĩa…

       Thơ hay đặc biệt là thơ của các tác giả trẻ đã và đang dần phát lộ rồi cũng sẽ được kiểm chứng qua thời gian.


alt

 

Nguồn: Văn nghệ Trẻ số 12 chủ nhật ngày 20-3-2011


  

More...

50 Năm Tạp chí LÚA VÀNG - Đầy ắp kỷ niệm - HUỲNH THÚY KIỀU

By Huỳnh Thúy Kiều

 

50 năm tạp chí Lúa Vàng - đầy ắp kỷ niệm

Bài và ảnh: Huỳnh Thúy Kiều

 

Chiều qua ( 30.12 ) lúc 14 giờ tại hội trường Tỉnh ủy Cà Mau Hội VHNT tỉnh Cà Mau đã kết hợp với Hội VHNT tỉnh Bạc Liêu long trọng tổ chức lễ kỷ niệm 50 tạp chí Lúa Vàng ra số đầu tiên 1960 - 2010 tiền thân của tạp chí Văn nghệ Cà Mau và Văn nghệ Bạc Liêu hiện nay.

Trải qua 50 năm trưởng thành nhiều cây bút tài năng xuất thân từ tạp chí Lúa Vàng đã tạo được chỗ đứng trong lòng bạn đọc bằng chính những trang viết đầy xúc cảm của mình. Năm 1960 nhiều tác giả đã tay cầm súng tay cầm bút quyết đấu tranh trên cả hai mặt trận vừa đối diện với kẻ thù trên chính mảnh đất quê hương mình vừa cày chữ để cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân và dân tỉnh nhà trong phong trào Đồng Khởi…

Tại buổi lễ kỷ niệm 50 năm tạp chí Lúa Vàng nhiều ký ức và hình ảnh đẹp như những thước phim quay ngược thời gian để mọi người cùng hoài niệm… Từ tạp chí Lúa Vàng qua nhiều lần thay tên đổi họ và chia tách tỉnh như Văn nghệ Minh Hải tạp chí Bán đảo Cà Mau ( của Hội VHNT tỉnh Cà Mau ) tạp chí Dạ cổ Hoài Lang ( của Hội VHNT Bạc Liêu )… và nhiều cây bút tên tuổi qua từng thời kỳ cũng được khơi gợi lại trong anh em văn nghệ sĩ từ chiếc nôi “ Lúa Vàng” đầy ắp kỷ niệm như: Nguyễn Hải Tùng Nguyễn Kiên Định Lê Chí Nguyễn Bá NSNA Võ An Khánh họa sĩ Văn Nhiệm Nguyễn Thanh Nguyễn Minh Nối… rồi đến Lê Đình Trường Duy Hoàng Phan Trung Nghĩa Hoàng Anh Việt… Giờ đây lực lượng viết trẻ được bổ sung và kế thừa cho văn nghệ Cà Mau như Nguyễn Ngọc Tư Lê Minh Nhựt Huỳnh Thúy Kiều Huỳnh Văn Út. Ở văn nghệ Bạc Liêu cũng vậy Huỳnh Thị Ngọc Yến Tú Nhã Lâm Tẻn Cuôi… cũng đã góp phần tạo ra lực lượng kế thừa hùng hậu cho văn nghệ Cà Mau - Bạc Liêu hiện tại.

Sau  đây     những hình  ảnh đã  được  Huỳnh Thúy Kiều “ chộp” tại buổi lễ kỷ niệm 50 năm tạp chí Lúa Vàng ra số đầu tiên 1960 - 2010. Mời quý bạn đọc bạn viết và thân hữu xem và góp ý.

Năm dịp năm mới Huỳnh Thúy Kiều kính chúc quý bạn bè và thân hữu lời chúc ân cần nhất tốt đẹp nhất từ xa xôi Mũi Cà Mau.

Trân trọng cảm ơn!

 

 Ảnh 1

                                               

                                                            Ảnh 2

 

 

 Ảnh 3

 

                                                    

                                                     Ảnh 4

     

                                                

                                                 Ảnh 5

 

Ảnh 1 2 3 4 5: Tạp chí Lúa Vàng ngày xưa và Tạp chí Văn nghệ Cà Mau Tạp chí Văn nghệ Bạc Liêu hiện nay

 

 

   

    Ảnh 6

 

                                                              

                                                              Ảnh 7

 

                                                              

                                                              Ảnh 8

 

  Ảnh 6 7 8: Không gian trưng bày Tạp chí Văn nghệ Cà Mau và Văn nghệ Bạc Liêu tại buổi lễ kỷ niệm 50 năm Tạp chí Lúa Vàng

 

                                                              

                                                               Ảnh 9: HTK “chụp cự ly gần” không gian buổi lễ

 

 

  

  

Ảnh 10: Đồng chí Lê Huỳnh Kỳ ( giữa ) Tỉnh ủy viên Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Cà Mau trao bằng khen của Ủy ban Toàn quốc LH các Hội VHNT VN cho đại diện Hội VHNT Cà Mau - nhà văn Lê Đình Trường - Phó Chủ tịch Hội ( trái ) và đại diện Hội VHNT Bạc Liêu - nhà báo Nguyễn Văn Thanh - Phó Chủ tịch Hội VHNT Bạc Liêu ( phải )

 

 

 

   

    Ảnh 11

 

    

     Ảnh 12

    

Ảnh 11 12: Lãnh đạo Sở VH-TT và DL tỉnh Cà Mau nhà văn Nguyễn Thanh và nhà báo Nguyễn Văn Thanh trao kỷ niệm chương vì sự nghiệp VHNT cho các văn nghệ sĩ tại buổi lễ kỷ niệm 50 năm Tạp chí Lúa Vàng

 

 

 

                                                          

 

                                                           Thư mời "BÀ" Huỳnh Thúy Kiều của chủ tịch Hội VHNT Cà Mau do chủ tịch hội NSNA TRƯƠNG HOÀNG THÊM ký

More...

Không đề tháng mười hai - thơ HUỲNH THÚY KIỀU

By Huỳnh Thúy Kiều

 

 

Bí ẩn em nằm trong lòng tay nắm

Như con tàu hoang phế lạnh sân ga

Ô chữ nhỏ tan nhanh trôi vào đêm mờ mịt

Đào ký ức lên

Xới cho tơi xốp những gam buồn

 

H.T.K

 

More...

Tôi đón nhân "VỀ NGUỒN" bằng nỗi buồn rất thật - HUỲNH THÚY KIỀU

By Huỳnh Thúy Kiều

 

Bài và ảnh: HUỲNH THÚY KIỀU

 

          Cách đây hơn nửa tháng vào một buổi chiều trung tuần tháng 10 tôi nhận được cuộc gọi từ số điện thoại lạ đầu dây bên kia là một giọng nam tiếng nói - theo sự phán đoán của tôi hình như là giọng miền Trung là phải. Thì ra đó là cuộc gọi của nhà thơ H.Man trưởng đại diện của NXB Văn Học khu vực miền Trung và Tây Nguyên. Sau một phút bất ngờ tôi hỏi nhà thơ H.Man sao biết số điện thoại của tôi anh trả lời rằng bạn bè có số của tôi thì anh cũng có đơn giản vậy thôi. Anh nói anh là thành viên trong ban tổ chức và tuyển chọn thơ in trong tuyển tập thơ VỀ NGUỒN của huyện Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam - một công trình quy mô và đồ sộ chào mừng 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội. Anh xin địa chỉ của tôi để gởi sách tặng vì tôi là một trong số rất nhiều tác giả có thơ được chọn in trong tập VỀ NGUỒN này. Niềm vui và xúc cảm kỳ lạ đến mãnh liệt dâng lên trong tôi bởi tôi không gởi bài cộng tác nhưng có bài được chọn in là một vinh dự rất lớn cho cá nhân tôi. Ngoài ra anh H.Man còn hỏi thêm tôi ở Cà Mau chắc gần nhà thơ Linh Phương ( Kiên Giang ) nếu tiện anh sẽ gởi chung tuyển tập cho anh Linh Phương nhờ tôi chuyển giúp. Tôi đã vui vẻ nhận lời và chờ sách trong sự háo hức như trẻ con đón mẹ đi chợ Tết về vậy.

 

          Niềm vui của người viết như thế đó bạn ạ!

          Và hôm nay tôi cũng đã nhận được sách. Cầm tập sách trên tay mà tôi nghe lòng mình có một sự hân hoan đến khó diễn tả. Hơn 1.000 trang sách đã nói lên sự trang trọng và kỳ công của những người trong BTC. Sau Lời nói đầu là bản chữ Hán và bản dịch ( trích ) Chiếu dời đô năm 1010 của Lý Thái Tổ rồi Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt. Từ thơ của cụ Nguyễn Du cho đến Tản Đà từ Nguyễn Đình Chiểu cho đến Phan Bội Châu Phan Châu Trinh từ thơ Bích Khê cho đến Huy Cận Xuân Quỳnh… Tôi thật sự xúc động đến nghẹn lòng. Nói như thế để thấy tổng quan văn học nói chung và riêng thơ Việt đã có quá trình kết nối và phát triển qua hàng ngàn năm từ cổ chí kim.

 

          Thế nhưng niềm vui đã không trọn vẹn. Tôi đã bị sốc với bản in bài thơ HƠI THƠ TÔI MANG MÙI BÙN ĐẤT. Có một sự nhầm lẫn đến tại hại. Bài HƠI THỞ TÔI MANG MÙI BÙN ĐẤT được in một cách “ hoành tráng” ở hai trang 526 và 527. Nhưng than ôi! Bài thơ trên được ghép từ đoạn đầu của bài này với đoạn sau của bài ĐÊM THÀNH PHỐ cũng của chính tôi. Thú thật với quý bạn đọc tôi choáng váng và buồn đến ứa nước mắt. Bạn đừng cực đoan mà cho rằng tôi đã không gởi bài cộng tác có thơ được chọn in trong tuyển tập quy mô như thế là “ may” rồi ở đó mà còn buồn và bức xúc gì nữa? Xin thưa nếu bạn là tôi có thể bạn còn buồn nhiều hơn nữa đó…

          Bất kỳ một việc làm một công trình nào cũng không thể chủ quan mà cam đoan là hoàn hảo ở mức tuyệt đối được. Ở mảng sách cũng vậy vẫn có phạm vi sai sót cho phép mà. Tuy nhiên một quyển sách được sự đầu tư cẩn thận là một công trình chào mừng Đại lễ 1.000 năm Thăng Long Hà Nội là một tác giả có thơ được tuyển chọn đáng ra tôi không cho phép mình buồn nhưng như thế là tôi không nói thật lòng mình rồi. Tôi mong rằng với một ấn phẩm văn hóa hơn 1.000 trang như thế chỉ riêng cá nhân tôi bị sự cố này thôi nó sẽ như một hạt sạn thật bé để không phải ai cũng có thể nhận ra và buồn như tôi hiện tại. Nhưng lấy gì bảo chứng rằng trong hơn 1.000 trang in của quyển sách ngoài sự nhầm lẫn của bài thơ tôi tất cả còn lại đều chuẩn xác?

 

Nói đúng lòng mình tôi đã đón nhận VỀ NGUỒN bằng một nỗi buồn rất thật. Và tôi cũng đã tự an ủi mình rằng biết đâu đến khi kỷ niệm 2.000 năm Thăng Long - Hà Nội bài thơ này sẽ được in lại một cách chính xác đến từng câu chữ.

Cà Mau những ngày mưa dầm đầu tháng 11.2010

 

HƠI THỞ TÔI MANG MÙI BÙN ĐẤT

       ( Bản in trong tuyển tập thơ VỀ NGUỒN )

 

Sực nức cánh đồng mùi khói rạ rơm

Mùa đìa cạn cá tung lên hứng khởi

Tôi được sinh ra nơi đất rừng huyền thoại

Đêm phương Nam buồn

Phím nhạc cũng chùng rơi.

 

Hơi thở tôi mang bùn đất quê nghèo

Nuôi khôn lớn từ tán bần nhánh ổi

Rặng trâm bầu

Rứt lòng bổi hổi

Dòng sông thơ chảy dọc tháng năm dài.

 

Tiếng sáo thả

Bậu về bên ấy

Cuốc kêu chiều

Khoắc khoải giọng cố hương.

Từng chang đước dậy mình ôm biển mặn

Rừng tràm thơm gọi ong mật quay về.

 

Con vạc sành réo cao vút ngọn tre

Chao chao vành nón lá

Ngẩn ngơ hoài

Thầm gọi

Dấu yêu ơi!

Đời người phận bạc về đâu?

Cộng thêm tiếng rao hàng khuya lơ khuya lắc

Trăng đuối sức ngưng phơi màu vằng vặc

Khép vội mi hờ chết giữa áng mây đen

Thành phố rồi dần mất thân quen

Láng giềng nhau ra vào khép cổng

Đêm lỡ đường lóng ngóng

Bờ rào thôi cũng cáu mắt nhìn

Đêm thành phố rất dài

Dài như không thể có tiếng gà báo buổi bình minh…

 

 

HƠI THỞ TÔI MANG MÙI BÙN ĐẤT

          ( Nguyên bản của tác giả )

 

Sực nức cánh đồng mùi khói rạ rơm

Mùa đìa cạn cá tung lên hứng khởi

Tôi được sinh ra nơi đất rừng huyền thoại

Đêm phương Nam buồn

Phím nhạc cũng chùng rơi.

 

Hơi thở tôi mang bùn đất quê nghèo

Nuôi khôn lớn từ tán bần nhánh ổi

Rặng trâm bầu

Rứt lòng bổi hổi

Dòng sông thơ chảy dọc tháng năm dài.

 

Tiếng sáo thả

Bậu về bên ấy

Cuốc kêu chiều

Khoắc khoải giọng cố hương.

Từng chang đước dậy mình ôm biển mặn

Rừng tràm thơm gọi ong mật quay về.

 

Con vạc sành réo cao vút ngọn tre

Chao chao vành nón lá

Ngẩn ngơ hoài

Thầm gọi

Dấu yêu ơi!

 

Thằng bé mục đồng bó gối chơi vơi

Đàn trâu mộng tanh mùi hôi cỏ diệt

Đành rã bầy

Vụn chiếc trống thiếu da

 

Đây châu thổ đón lũ góp phù sa

Hạt gạo nở ngọt ngon từ ruột đất

Ai nặng nợ với tuổi đời cơ cực?

Ai vác chữ đi lên trong khó nhọc?

Bừng sáng trái tim lối nhỏ dắt ta về

Một khát vọng xanh…

 

 

 

 

 

 

         

 

 

 

 

More...

Chút kỷ niệm với họa sĩ Lê Ký Thương giữa Sài Gòn- HTK

By Huỳnh Thúy Kiều


Preview

      Một lần gặp duy nhất với 15 phút để bàn công việc là quá hiếm hoi. Chính sự hiếm hoi đó nên có những điều mà tôi phải trao đổi lại thêm với anh về bản thảo tập thơ qua email. Anh nói với tôi anh sẽ làm hết sức khi nào tôi thật ưng ý với bìa và cách trình bày thì thôi. Nói nghe đơn giản vậy nhưng khi ý tưởng của tôi và anh " chênh nhau" thì không dễ dàng chút nào; tôi thuộc dạng " cứng đầu và ương bướng" nên về sau anh có vẽ bớt hứng thú. Tập GIẤU ANH VÀO CỎ XANH rồi cũng được hoàn thành và ra mắt bạn đọc; lúc nhận được tập thơ tôi gởi tặng anh đã nói với tôi một khi tôi ưng ý về tập thơ thì mọi vấn đề mà anh em đã tranh luận trước đây đều là chuyện nhỏ. Hồi giữa cuối tháng 7 này sau khi trở về từ trại sáng tác ở Bến Tre tôi đã gấp rút đưa ông bố đi SG tái khám cho đúng lịch; trên đường trở lại Cà Mau tôi có nhắn tin cho anh nói rằng mình đang từ SG về anh bảo tôi lúc nào cũng vội hết thôi hẹn lần sau gặp sẽ "oánh nhau" giữa chợ vậy.

H.T.K


More...

Tản mạn với người già người sồn sồn và người trẻ - HTK

By Huỳnh Thúy Kiều

Preview

Một buổi chiều cuối hạ người viết văn sồn sồn và người làm thơ trẻ ngồi với nhau uống mấy ly rượu với bao nhiêu chuyện đời chuyện nghề thật tình đã làm phong phú thêm suy nghĩ của tôi biết bao. Trước khi chào chú ra về chú nói để chú gọi và chuyển máy cho tôi nói chuyện với nhà văn TTĐ. Khi bước ra thềm nhà tôi lại hẹn hôm nào con lại ghé chú trước khi ghé con sẽ điện thoại trước chú nói " mấy người cứ ghé lúc nào cũng được không cần điện trước tui nghỉ hưu rồi có đi đâu đâu". Nghe vậy chạy xe về mà tôi cứ luôn bị ám ảnh câu nói đó của chú mãi cứ bùi ngùi...




More...

Bến Tre - sự trung dũng khơi gợi nên những cảm hứng văn chương

By Huỳnh Thúy Kiều

 

( Bài phát biểu tổng kết trại sáng tác của Tạp chí VNQĐ do Đại tá - nhà văn Ngô Vĩnh Bình bình bày tại lễ bế mạc lúc 14 giờ ngày 15/7/2010 )

Trại sáng tác Văn học Bến Tre 2010 do Tạp chí Văn nghệ Quân đội phối hợp với Hội Văn học nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu tổ chức diễn ra từ ngày 30 - 6 đến ngày 15 - 7. Tham dự trại viết có 10 tác giả là hội viên Hội văn học nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu và 20 tác giả thuộc các tỉnh Tây Nguyên Nam Trung bộ và Nam bộ. Kết thúc trại viết đã có nhiều tác phẩm hoàn thành.

Ở mảng văn xuôi các nhà văn đã cho ra đời 23 truyện ngắn 7 bút ký văn học và tất cả những tác phẩm ấy đều lấy Bến Tre làm bối cảnh. Mỗi nhà văn không phân biệt nhà văn trong tỉnh hay ngoài tỉnh đều đã tìm thấy ở đây một ý nghĩa lớn lao để khám phá thể hiện. Đó là các truyện ngắn Qua sông của Nguyễn Nhật Nam; Dư chấn của Mai Văn Ro; Người thay tên xóm của Khổng Huỳnh Phong; Lão dừa ẻo của Phùng Phương Quý; Bức thư viết lại của Tô Nguyên Ngã; Lửa từ quá khứ của Trần Minh Thuận...; những bài bút ký Cổ tích Hàm Luông Nụ cười chiến sĩ của Phan Tấn Hà... Nổi lên trong những tác phẩm này là âm hưởng ngợi ca truyền thống đấu tranh anh dũng của quân và dân Bến Tre và những vấn đề bề bộn thời hậu chiến. Ngoài ra còn có những tác phẩm thể hiện nỗi trăn trở với quê hương Bến Tre trong khát vọng vươn lên thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá nông thôn trí thức hoá nông dân như truyện Đất yêu thương của Nguyễn Thu Phương Cõi tạm của Nguyễn Nhật Nam...

Điều đáng ngạc nhiên là có những tác giả mặc dù mới đến Bến Tre lần đầu nhưng đã có những rung động sâu sắc và cho ra đời những tác phẩm thấm đẫm tình đất tình người Bến Tre. Truyện ngắn Huyền Thoại X.d của Vũ Trường Giang một tác giả sinh năm 1988 là một ví dụ. (X.d là viết tắt của hai chữ Xứ dừa). Truyện lấy chất liệu từ hiện thực bi tráng trong những tháng năm khói lửa. Bằng lối viết kì ảo của tác giả thế hệ 8x người xứ Huế con người và cảnh sắc trong cuộc đấu tranh một mất một còn của quân và dân Bến Tre đã trở nên lung linh huyền ảo mang tính biểu tượng kì vĩ. Qua trường hợp này có thể khẳng định thêm một lần nữa rằng đề tài chiến tranh cách mạng không bao giờ cũ. Vấn đề là cách viết như thế nào để tác phẩm hấp dẫn mà thôi.

Ngoài viết về Bến tre các tác giả cũng đã cho ra đời những tác phẩm ở các mảng đề tài khác. Đó là các truyện ngắn Bạn bia và những nụ hôn Điều may mắn cuối cùng Người đàn bà của đêm của Nguyễn Mỹ Nữ; Vườn dâu xa ngút Gã ăn mày của Phạm Thị Ngọc Điệp; Hào quang le lói Lập trình của Nguyễn Trung; Xóm biển mù xa của Trần Minh Thuận; Bàu lùng tung không gió của Nhất Phượng; Trời rộng sông dài Kẻ ăn người của Phan Đức Nam; Trăng đổ phận người của Nguyễn Toàn; Đường xa vạn dặm Ánh hồi quang hiu hắt của Lê Hoài Lương... Những tác giả này là cộng tác viên thường xuyên của Tạp chí Văn nghệ Quân đội nhiều người đã đoạt giải thưởng qua các cuộc thi truyện ngắn của Tạp chí. Về tham dự trại lần này các tác giả đã trình làng những truyện ngắn được ấp ủ nung nấu trong quãng thời gian dài về muôn mặt của đời sống với bao chuyện vui buồn ở nhiều không gian khác nhau. Từ vùng cao Tây Bắc cho đến miệt vườn Nam bộ; từ miền biển sóng gió dập dồn cho tới núi rừng heo hắt... Thế giới nhân vật trong tác phẩm cũng vô cùng đa dạng. Từ những người nông dân bé mọn cho tới những người quyền cao chức trọng; từ những trí thức thất thế cho đến văn nghệ sĩ thất thời... Mỗi người một phong cách một giọng điệu riêng. Nguyễn Mỹ Nữ vẫn giữ được giọng văn nhẹ nhàng pha hóm hỉnh; Nhất Phượng vẫn chung thuỷ với lối viết giản dị nhân ái; Phạm Thị Ngọc Điệp vẫn tỏ ra là người có sở trường khi lấy cảm hứng từ những câu chuyện lịch sử và huyền tích dân gian... Ngoài các tác giả vẫn giữ được phong độ ổn định một số tác giả không thoả mãn với những thành công đã có đang khao khát tìm tòi những lối thể hiện mới. Lê Hoài Lương đang thể nghiệm lối viết kiệm lời mà giàu suy tưởng; Nguyễn Toàn không muốn lặp lại những trang văn chậm rãi ưa triết luận nên bắt đầu sử dụng một văn phong với nhịp điệu nhanh mạnh như chính tốc độ của dòng chảy cuộc sống hiện đại; Nguyễn Trung tác giả trẻ giàu nội lực dường như không thoả mãn với những thành công ban đầu nên muốn thể nghiệm lối viết hậu hiện đại; Phan Đức Nam dường như đã thôi những ám ảnh về những câu chuyện từ dĩ vãng để xác lập một lối tiếp cận mới là đi sâu khám phá thế giới nội tâm con người trong những hoàn cảnh đặc biệt. Với lối viết kĩ lưỡng phân tích tâm lý tinh tế chọn bối cảnh độc đáo truyện Trời rộng sông dài của anh đã khắc hoạ sinh động tính cách Nam bộ hiền lành mà mạnh mẽ quyết liệt đua tranh nhưng cũng đầy cao thượng. Dù mức độ thành công của mỗi người có khác nhau nhưng sự tìm tòi thể nghiệm của các tác giả là rất đáng trân trọng bởi đó là khát vọng nghệ thuật luôn luôn muốn tự làm mới mình của mỗi nhà văn. Điều đáng mừng là dù có sử dụng lối viết nào cổ điển hay cách tân truyền thống hay hiện đại; dù khai thác đề tài nào đi chăng nữa thì mục đích của các tác phẩm dự trại lần này đều hướng tới những giá trị nhân văn sâu sắc. Có thể khẳng định kết quả về văn xuôi của trại viết Bến Tre 2010 là rất đáng mừng. Mừng không chỉ vì có nhiều tác phẩm có chất lượng để sử dụng ngay cho những kì Tạp chí tới đây mà còn vì Ban tổ chức đã phát hiện ra một lực lượng tác giả văn xuôi nhiều tiềm năng trong Hội Văn học nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu. Vì nhiều lí do khách quan các tác giả chưa có dịp tham gia trại viết nhưng bằng tình yêu văn chương tình yêu đối với Tạp chí Văn nghệ Quân đội các tác giả đã chủ động gặp gỡ gửi tác phẩm cho Ban tổ chức để giao lưu trao đổi... Đó là các tác giả Ngọc Vinh Từ Phạm Hồng Hiên Phạm Bội Anh Thuyên... với những truyện ngắn bút ký thấm đẫm tình người tình đất và dậy lên phong vị sông nước đồng bằng châu thổ Cửu Long.

Mảng thơ ở trại viết lần này có thể khẳng định ngay rằng đã đạt chất lượng rất tốt và khá đa dạng.

Bến Tre vùng đất trung dũng kiên cường trong chiến tranh nhưng cũng rất lãng mạn trong cuộc sống thường ngày có lẽ đã phần nào gợi cảm hứng sáng tác dồi dào cho tác giả Hoàng Phụng Cầm và kết quả là anh đã có được chùm bài: Người ơi người ở Mộng du Phù sa một Phù sa hai Đồng Lê. Trong bài thơ Phù sa một Hoàng Phụng Cầm viết:

-Soi mình vào hạt phù sa hôm nay

Đọc ra chữ lấp bồi

Nếm vị đắng trong trái nước dừa ngọt và trong

Lịch sử hiện lên ở những thứ tưởng tầm thường.

Đó có thể coi là một trải nghiệm tươi mới mà Hoàng Phụng Cầm đã rút ra trong thời gian tiếp xúc với con người và lịch sử Bến Tre.

Những bài thơ của Trần Hữu Dũng viết trong thời gian dự trại thực sự là những lát cắt sắc lẹm mà thẳm sâu về ý nghĩa của cuộc sống hiện thực. Viết về Chợ Lách Bến Tre Trần Hữu Dũng đã có những câu thơ vừa lãng mạn bay bổng vừa đậm đà hiện thực:

- Em hóa thành chim bay chao đảo khắp bãi cồn

Vô tình qua sông đánh rơi điệu lý giao duyên.

Câu khẽ dạ thưa nghe chết điếng lòng người

Ngọn đèn chài con mắt nhớ thâu đêm.

Với chùm thơ: Xin đừng lấp trụi lời ru Tự khúc Cửu Long kính gởi sông Hồng Gởi lại Bến Tre Thư cho Trường SaRu trăng Huỳnh Thúy Kiều khiến chúng ta phần nào thấm thía thêm những tình cảm chân thành của chị về quê hương đất nước mà trong đó sông nước Bến Tre là một phần được cụ thể hóa:

-Vui cùng mẹ đi con cho trôi hết những phía buồn

Để Bến Tre đêm càng nén lòng càng dài thêm thao thức

Hôm nay mẹ lại dắt con về lạy quê và khóc

Xin ký thác cuộc đời vào câu: Nguyên - quán: Bến Tre!

Nếu như Huỳnh Thúy Kiều là sự hoài vọng về Bến Tre thì Cát Hoàng lại là tiếng nói cất lên trực tiếp từ Bến Tre với chất giọng khỏe khoắn giàu tính triết luận. Thơ của anh chất chứa những nỗi niềm sâu lắng đáng phải suy ngẫm:

-Đau thắt ruột mỗi lần về Bình Đại

Xương máu dưới chân tình nghĩa trên đầu

Hương kỷ niệm bàng bàng không khí

Một dang tay chạm một tiếc thương

Cũng sống và làm việc tại quê hương của cụ Đồ Chiểu nhưng những sáng tác lần này của Đình Thu đa phần lại vươn ra khỏi vùng đất Nam bộ để hướng về những miền xa của đất nước. Trong số hơn chục bài được sáng tác trong thời gian dự trại thì không thể không kể đến những bài thơ có tình cảm "vượt tuyến" như: Lời thề núi Đôi Phía sau giấc mơ Đồng bằng và tôi Về Hà Nội cùng em Trôi theo miền nhớ Chợ đời. Thế nhưng ấn tượng sâu sắc nhất mà Đình Thu gây được cho người đọc có lẽ vẫn là tình cảm về vùng đất Nam bộ giàu chất thơ:

Đồng bằng

Giấu trong mình câu vọng cổ

Điệu xàng xê ....

Trầm buông

Cô gái miệt vườn đoan trang đằm thắm

Làn da như bông bần nở trắng

Ngoài triền sông

Đêm thức

Chờ !

Hương phù sa quyện vào giấc ngủ

Bìm bịp kêu

Nỗi nhớ nghiêng lòng.

Phong Tâm là tác giả thơ thứ ba của Bến Tre tham dự trại viết. Chùm thơ mới nhất của anh tập trung vào phản ánh nhịp điệu phát triển cuồn cuộn trong thời đại mới của quê hương Bến Tre mà những câu thơ trong bài Cầu Rạch Miễu là một ví dụ:

-Thức

Đêm thức

Tiếng phà căng phổi thức

Đôi bờ xa lớp lớp sóng cồn

Ngàn sao xanh lấp lánh một vòm

Trăng mênh mông tháng bảy mênh mông

Đèn cao áp gạt đêm ra

Sáng rực...

Dự trại viết lần này Ngọc Tuyết chọn cho mình thể loại lục bát và chị đã có được những bài thơ đáng chú ý với nét mới cả về ngôn ngữ nhịp điệu hình ảnh. Đặc biệt bài thơ Gió buộc với chủ đề viết về thân phận con người trong chiến tranh của chị gây ấn tượng mạnh:

-Đêm qua từ đất em về

Lấm lem thân xác dầm dề khói sương

Đất can tâm nhịp thê lương

Từ khi em bỏ chiến trường đi xa

Triền miên nỗi nhớ ngực ta

Trái tim vẫn thức nõn nà vết thương

Xác thân đội nắng bên đường

Lâm chung một thủa mười phương khẩn cầu

Cho em về buổi ban đầu

Có thời con gái bắc cầu nhân duyên

Chiến trường nghẹn lối trầu têm

Khăn tang gió buộc mình em với rừng

Không quá khi nói rằng những bài thơ lục bát của Ngọc Tuyết sáng tác trong thời gian dự trại hứa hẹn sẽ làm phong phú thêm cho cuộc thi thơ lục bát mà tạp chí Văn nghệ Quân đội đang tổ chức.

Tác giả Đào Duy Anh với những tác phẩm: Bắt tội đàn bà-phải tội đàn ông Tản mạn Nhỏ ạ Nỗi ngườiTự họa vẫn duy trì giọng thơ vừa suy tư vừa bảng lảng xen đôi chút siêu hình của mình. Những tầng nghĩa ẩn sâu phía sau những hình ảnh tưởng chừng giản dị mộc mạc mà lại đầy ấn tượng trong bài thơ Tản mạn của Đào Duy Anh không khỏi khiến người đọc suy tư:

-Tản mạn đâu đó đôi mắt trừng trừng phía chân trời

tản mạn đâu đó mẹ tiếp đất bằng bàn chân nứt nẻ

có người bơi trong lịch sử đôi nạng gỗ

đã từng siết cò trước quân thù một cách khẳng khái về sinh tồn và tự do...

Về tuổi đời Lê Nguyệt Minh là tác giả trẻ nhất trại viết vì thế cũng dễ hiểu khi chùm thơ viết trong thời gian dự trại của chị chủ yếu nói về tình yêu đôi lứa. Và điều đặc biệt là tình yêu ấy hình như cũng khởi nguồn từ ai đó ở Bến Tre:

-Không nói nổi một lời tạm biệt

Trước khi quay lại phù sa

Bậu chắc không còn qua Rạch Miễu

Sông Hồng bỏ trốn sau lưng

Đừng nói gì đừng nói gì

Cứ lặng im nhìn lặng im nhìn cho em ảo tưởng

Có một người đang chờ đợi phía sau...

Với những thành quả cả văn xuôi và thơ ở Trại sáng tác văn học Bến Tre 2010 cho thấy mô hình phối hợp tổ chức trại viết giữa Tạp chí Văn nghệ Quân đội với những hội văn nghệ địa phương là con đường ngắn nhất để phát hiện ra những tài năng mới tác phẩm mới. Từ mô hình này có thể khẳng định rằng một khi có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan văn học nghệ thuật và sự quan tâm của các cơ quan chức năng địa phương thì chất lượng trại sáng tác được nâng lên rất nhiều. Những thu hoạch từ trại viết này không chỉ là những tác phẩm nhìn thấy ngay trước mắt mà còn là những tác động lâu dài. Từ trại viết này thông qua sự giao lưu văn học Văn nghệ Quân đội có thêm một đội ngũ cộng tác viên mới; phong trào sáng tác của văn nghệ Bến Tre được tiếp lửa có thêm một luồng sinh khí mới khơi nguồn cho những sáng tạo nghệ thuật hoà vào dòng chảy chung của văn học nước nhà.

 ( THỤY- PHƯƠNG tổng hợp )

 

More...

Bài thơ hay nhất vẫn còn ở phía trước - Khánh Nam thực hiện

By Huỳnh Thúy Kiều

 

Bài thơ hay nhất vẫn còn ở phía trước





 

- Phóng viên: Sau tập thơ đầu tay "Kiều Mây" rất thành công chị nghĩ mình sẽ đáp ứng được mong đợi gì từ độc giả ở tập thơ mới này?
- Huỳnh Thúy Kiều: Nếu "Kiều Mây" có được sự quan tâm lớn từ bạn đọc thì chính điều đó lại trở thành thách thức với tôi khi thực hiện tập thơ "Giấu anh vào cỏ xanh". Tôi muốn mang lại cho bạn đọc một giọng điệu khác trước một chút. Tập thơ này không phải là "Kiều Mây" kéo dài mà nó mang thông điệp riêng lắng hơn sâu hơn chân thành hơn. Nhưng đó là ý muốn chủ quan của tôi còn thật như thế nào phải chờ sự đánh giá từ bạn đọc.
- Phóng viên: Tôi tạm chia các bài thơ trong tập "Giấu anh vào cỏ xanh" vào 2 loại chủ đề: viết về quê hương và tình yêu. Tuy nhiên theo đánh giá chủ quan của tôi về mặt số lượng và chất lượng rõ ràng thơ của Huỳnh Thúy Kiều viết về quê hương vẫn gây ấn tượng hơn cả. Thế thì tại sao chị lại lấy tên "Giấu anh vào cỏ xanh"? Phải chăng đó là "một chiêu tiếp thị" rằng: hãy khám phá Huỳnh Thúy Kiều viết về tình yêu?
- Huỳnh Thúy Kiều: Tôi phải nói trước với thơ không thể có chiêu gì tiếp thị được nếu không tự nó chân thành đến với mọi người. Người đọc bây giờ có trình độ cao họ đọc chính bằng mắt và tâm hồn của họ không có thể "đánh lừa" người đọc được. Giá trị thật của thơ mới là "chiêu tiếp thị" cao nhất. Vì vậy bằng sự chân thành thơ đến với bạn đọc bằng tất cả những thông điệp mà chính thơ muốn truyền tải.
Với tập thơ "Giấu anh vào cỏ xanh" như bạn nói vẫn hai chủ đề quê hương và tình yêu. Nếu nói chỉ một chủ đề tình yêu cũng đúng. Tình yêu quê hương cũng chính là tình yêu con người và ngược lại.
- Phóng viên: "Trút vào đêm ngồn ngộn ánh khỏa thân/Uống sợi tơ sương loang mềm cõi nhớ/Cao nguyên vắt ngang cơn lũ quét/Vạch bầu vú trời/Mê đắm những ban mai...". Có thể tìm thấy trong "Giấu anh vào cỏ xanh" những hình ảnh dữ dội như thế. Chị có ngại nếu có độc giả nào đó cho rằng: Huỳnh Thúy Kiều đang đưa hình ảnh sex vào thơ?
- Huỳnh Thúy Kiều: Thơ vốn đa nghĩa đa tình. Nhưng câu thơ viết thể hiện tình cảm của mình nằm ở ranh giới nhạy cảm. Chính sự nhạy cảm này làm cho bài thơ "thơ hơn". Khi viết được bài thơ hay câu thơ tưởng như sex đó là khi người viết đã viết được hai bài thơ một lúc nó lồng vào nhau. Tôi tin bạn đọc thơ tôi sẽ đọc được tình yêu mà tôi muốn mang đến.

- Phóng viên: Điều gì khiến chị thấy chưa hài lòng ở tập thơ này?
- Huỳnh Thúy Kiều: Khi chưa in tôi cứ tưởng tập thơ mình đã trọn vẹn (vì thế mới in!) nhưng in rồi đôi khi lại thấy câu này chữ này bài kia chưa thật ưng ý lắm. Thơ thật khó hoàn thiện và có hoàn thiện đến đâu phải nhờ bạn đọc cảm nhận mới đúng. Người viết chỉ biết rằng mình viết với tất cả tấm lòng chân thật và sự tôn trọng bạn đọc. Chính nhận thấy điều chưa hoàn thiện đó mình phải tiếp tục lắng nghe và vươn lên. Đối với tôi bài thơ tập thơ hoàn thiện vẫn luôn còn phía trước. Người ta bảo bài thơ hay là bài thơ chưa viết quả rất có lý.
- Phóng viên: Tập thơ thứ 2 cho thấy sự vươn dài ra nhiều nẻo đường đất nước của Huỳnh Thúy Kiều. Trước đây thơ chị chỉ mới "đi loanh quanh" châu thổ bây giờ chị đặt gót chân đến Hà Nội Quảng Trị cũng như nhiều miền quê khác và đã có bước đầu thành công với giải thưởng của Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Những miền quê khác đã gợi lên điều gì trong chị?
- Huỳnh Thúy Kiều: Thơ cũng như đứa trẻ khi mới tập đi chỉ đi trong nhà hoặc ngoài sân nhà mình. Khi lớn hơn và trưởng thành hơn trên những nẻo đường phía trước luôn luôn hấp dẫn thách thức sự tò mò khám phá. Khi viết về mảnh đất quê mình tôi có cảm giác nhiều vùng quê khác của đất nước như đang vẫy gọi tôi. Tôi nghĩ người làm thơ cũng cần hướng tới mọi nẻo đường của đất nước. Chính những bước chân ban đầu của đứa trẻ rất quan trọng nó bảo đảm cho những bước chân đi xa hơn sau này.
Đương nhiên tôi không sinh ra và lớn lên ở Hà Nội nhưng Hà Nội là thủ đô của tất cả mọi người Việt Nam là trái tim của Tổ quốc mà. Những vùng đất khác cũng vậy tôi chưa hề được đến nhưng đất nước mình đâu đâu cũng đẹp và giàu truyền thống. Viết về những vùng đất khác cũng là lúc mình càng yêu quê mình hơn đất nước mình hơn. Người cầm bút cần mở rộng tầm nhìn hướng trái tim mình với tất cả tình yêu nồng nhiệt để viết... Việc tôi được giải thưởng của Tạp chí Văn nghệ Quân đội chỉ là bước đầu còn giải thưởng lớn nhất cho thơ theo tôi đó là khi thơ có chỗ đứng trong lòng bạn đọc được sự yêu mến cảm thông chia sẻ của bạn đọc... Tôi luôn tự nhắc mình như thế và sẽ không ngừng nỗ lực.
- Phóng viên: Bạn đọc và bạn thơ sẽ chờ đợi điều chị vừa nói "sẽ không ngừng nỗ lực" vì những tác phẩm hay nhất đang chờ ở phía trước

Được đánh giá là một trong những cây bút nữ của đồng bằng sông Cửu Long có diện mạo riêng với hồn thơ hồn hậu nhưng vẫn không kém phần mãnh liệt Huỳnh Thúy Kiều vừa ra mắt tập "Giấu anh vào cỏ xanh" (NXB Văn Học). Bạn đọc bắt gặp lại những câu thơ giàu hình ảnh với mạch chảy nhanh sôi động nồng nàn  nhưng vẫn đậm chất Nam Bộ. Trần Hữu Dũng nhận xét: "Ở tập thơ này Huỳnh Thúy Kiều vẫn giữ thế mạnh của mình là mạch liên tưởng dồn dập nhịp điệu hình ảnh lung linh biến hóa khiến bài thơ lôi cuốn nhịp nhàng. Rất nhiều bài tác giả thành công khi biết kết hợp nhuần nhuyễn giữa cảm xúc và suy tưởng lắng đọng lâu dài trong lòng bạn đọc như: Giữa mùa hội lũ Khóc với cố hương Những quân bài trùng Ngày không anh... Ghi nhận thêm ở tập thơ này Huỳnh Thúy Kiều có những bài mang đậm tính tự sự giàu chất hoàn tráng của loại thơ thể hành gợi nhớ bài "Hành Phương Nam" của Nhà thơ Nguyễn Bính với một cách nói sôi nổi da diết miệt vườn hơn.

Khánh Nam thực hiện

Nguồn: Báo Cà Mau Oline số cuối tuần ngày 4-7-2010

More...

HUỲNH THÚY KIỀU ra mắt GIẤU ANH VÀO CỎ XANH tập thơ riêng thứ 2....

By Huỳnh Thúy Kiều


HUỲNH THÚY KIỀU RA MẮT GIẤU ANH VÀO CỎ
XANH CÙNG CỘNG ĐỒNG VNWEBLOGS
 

    Sau một thời gian dài chuẩn bị được sự giúp đỡ về mặt tinh thần rất lớn từ quý bạn bè thân hữu; đến hôm nay GIẤU ANH VÀO CỎ XANH - tập thơ in riêng thứ 2 của Huỳnh Thúy Kiều đã được " ra lò". Cũng giống như KIỀU MÂY GIẤU ANH VÀO CỎ XANH được cấp phép bởi NXB Văn Học cũng gồm 36 bài thơ nhưng lần này ngoài vẽ bìa họa sĩ Lê Ký Thương còn vẽ tặng Huỳnh Thúy Kiều
phụ bản.

 




         
Thưa quý bạn đọc ! Đây là những góc nhìn của ấn phẩm GIẤU ANH VÀO CỎ XANH cùng 1 phụ bản bên trong quyển sách mà HTK muốn giới thiệu cùng cộng đồng vnweblogs. HTK rất mong nhận được nhiều niềm vui cùng sẻ chia với HTK về đứa con tinh thần thứ 2 này của mình.








         
Kính chúc quý bạn bè thân hữu cùng bạn đọc bạn viết cộng đồng vnweblogs sức khỏe hạnh phúc và thành đạt.

          Chân thành cảm ơn.

          Trân trọng !





More...

Những dòng thơ đương đại - Võ Công Liêm

By Huỳnh Thúy Kiều


NHỮNG DÒNG THƠ ĐƯƠNG ĐẠI
( Phần 3  )
Võ Công Liêm

"Những sáng tác có giá trị thực chất có ít nhiều vô đề" (Lê Đạt)

... Đơn cử một số nhà thơ đương đại với khuôn mặt trẻ và những nhà thơ "dày dạn" có sẳn những thể thơ này họ âm thầm sáng tác nhưng ít ai thấy được chất thơ của họ. Xin điểm qua đây: Huỳnh Thúy Kiều Ngô Thị Hạnh Cát Du Chiêu Anh Nguyễn Vi thùy Linh và Ly Hoàng Ly. Bên cạnh đó còn có: Vũ Trọng Quang Trần Hữu Dũng Linh Phương Lê Vĩnh Tài và Từ Hoài Tấn. Những nhà thơ trên đây đã vận dụng ngôn ngữ và "chất liệu" để làm nên những bài thơ hiện thực siêu thoát. Đó là những dòng thơ đương đại.
Song hành với nữ phái thơ nam phái thường có những lời thơ ẩn dụ để che cái tình yêu sâu kín trong lòng dù họ diễn tả dưới mô hình nào đều chứa ít nhiều tình cảm nồng nàn trong thơ tình yêu tình người tình quê hương và tình yêu thiên nhiên luôn luôn dính liền trong thơ của họ bởi qua mấy mươi năm không chiến tranh lòng người dịu xuống tính phẩn nộ trong thơ văn cũng mờ nhạt theo thời gian chỉ còn lại trong ký ức như hoài niệm và mượn hoạt cảnh đó để làm nhân chứng cho tình yêu và nhờ đó mà sáng tác được nhiều đề tài khác nhau tạo được một ngôn ngữ mới cho thơ những bài thơ sau nầy có chất lượng của các trường phái thơ nhưng hoàn toàn độc lập theo cảm quan của riêng mình sáng tạo được cả âm và lời để bài thơ trở
nên độc đáo chân phương hơn những nhà thơ hôm nay nhìn thơ là một thực thể; như để biện minh một thứ tình yêu hiện hữu trong đời sống hằng ngày mà họ đã đối diện với thực tại. Đó là nguyên nhân để cho nhà thơ thể hiện một sự đúc kết hiện thực trong thơ mình một sáng tạo vượt mức. Vì sáng tạo của thi ca là một ý thức thức tỉnh do từ cái nhìn của nhà thơ đó là cái nhìn khám phá khám phá nội tâm qua sự khám phá ngoại gìới hai yếu tố đó đã đưa bài thơ đến tuyệt đỉnh của cảm thức. Nhưng bên cạnh đó họ
vẫn giữ được tính đa cảm sentimental trong thơ dù dưới thể loại khác nhau nhà thơ luôn luôn sống từng chữ thơ của mình để có phong cách riêng chớ không phải lấy thơ để trang điểm thơ hay tạo hiện tượng. Nói cho ngay; những nhà thơ nam giới đã đưa hồn thơ của mình vào một thế giới riêng tư đầy sáng tạo với chất liệu substance đó làm cho thơ trở nên mới nhưng trong cái mới chính là ngôn từ thơ; đó là yếu tính nghệ-thuật-thơ-mới hôm nay.

-
VŨ TRỌNG QUANG: Thường xử dụng ngôn ngữ "lập ngôn" trong thơ có nghĩa là chữ đối chữ ngay cả tựa đề bài thơ tác giả vẫn dùng cái lối tu từ đó. Mới đọc thơ VTQ thường làm cho thị giác khó chịu bởi thơ dựng theo thể cực-hiện-thực (hyper-réaliste) làm cho những bài thơ của VTQ đi vào thể thơ-vô-nghĩa (nonsense) chính thể thơ nầy đã xuất hiện vào thế kỷXII XIII ở Pháp một thể thơ được gọi là thơ-hồ-lốn (fatrasie) chính cái hồ-lốn tạp-lục như thế biến mỗi bài thơ có giọng thơ bâng quơ vô nghĩa; đây không phải là thể thơ dể thiết lập hay làm nên nó đòi hỏi một sự sáng tạo vô cùng của nhạy cảm để đủ năng lực đuổi theo "con chữ". Gần đây Anh Pháp lập ra phong-trào thơ VÔ NGHĨA họ cho rằng những câu thơ bài thơ có ý nghĩa chẳng ăn nhập vào đâu cả mà trở thành sáo ngữ; họ chỉ chú trong vào ngữ thuật. VTQ tài tình trong ngữ thuật đó và tạo được cái riêng của ngôn ngữ thơ hôm nay. Cho dù có những vần điệu mơ hồ tối nghĩa
(ambiguous) nhưng vẫn để lại dấu ấn sâu sắc của cái lạ trong bài thơ. Đi sâu vào loại thơ nầy để thấy chất liệu của nó:

SÁNG TẠO
Vô vàn bước đi không vạch hết con đường
phía trước sương mù trắng xóa hiện thực
sỏi đá có chịu trách nhiệm về mình
trên gồ ghề biến đôi chân đau đớn & chai sạn

Dự định phải vượt vị trí thời gian
khởi từ chồi non khởi từ tro than
sứ mạng ánh sáng truyền ba động không nơi trú ngụ
lẽ nào đền đài cổ kính truyền cấu trúc trước giờ động thổ

Nếu hạnh phúc của tia mặt trời
chỉ khúc xạ và sáng rực ở lăng kính
nếu cảm xúc hoa giả sung sướng mọc dài trên đường đi tới
tôi thách đối với chính tôi

Tôi sợ lập lại với chính tôi
không thoát được.(*)


ĐỘ NGHIÊNG BÓNG TỐI

Anh thấy hình con tàu thơ em mắc cặn cao nguyên
tự do nghiêng
vị đắng cà phê ban mai ban mê thất bại
...
đầu tàu cố vận mình vận hành không mất phương hướng
lớp lớp hoa hướng dương che màu mắt mặt trời
ngôi nhà trung tâm trên bờ không thèm nghe thấy (*)
...

Từ thể thơ vô-nghĩa đó thơ VTQ đúng là thể thơ siêu nhiên (supernatural) cho một trong những dòng thơ đương đại hôm nay.
Quả không ngoa!

-
TRẦN HỮU DŨNG: Xây dựng một thể thơ khám phá vào thơ hiện thực bằng những cách trở khác nhau;bằng những hình ảnh khác nhau; người ta cho đó là chủ nghĩa hình tượng (imagism). Trong thơ THD có bài trộn lẫn giữa những thể khác nhau như siêu-thực (surrealism) và trừu tượng biểu tượng (abstract empresssionism) làm cho bài thơ ngắt giòng đột ngột và làm cho bài thơ trở nên siêu-lý của những thể loại thơ như thế nầy. Thơ THD mang nặng tính chất ẩn dụ và trình-diễn-nghệ-thuật đó là sáng tạo của ngôn từ (art is a metaphor of the creation). Tạo cho mình một dáng thơ có chiều sâu và tiềm ẩn. Nhờ những biến thể đó thơ THD
trở thành thể loại thơ xuôi xuôi hơn cả thơ tân-hình-thức (!). Trích đoạn những bài thơ tượng trưng để tìm thấy thể loại mới nầy trong thơ Trần Hữu Dũng.

THANH TẨY

Chỗ em nằm những vết lõm gợn đường cong bất tuyệt
Và hơi thở gió rướn mình
Trườn qua đồi núi hẻm vực đê mê

Vây bủa các toà buynh duynh ngất nghểu
Đôi tình nhân chọn căn phòng nhỏ làm tổ ấm
Gù nhau suốt mùa hè đỏ lửa

Ráng chiều soi gương mặt em hồng rạng rỡ
Hàng cây bên đường xoè bung tàn lá
Thủ thỉ lời phủ dụ chết người

Khúc hát tình yêu ban đầu trở lại
Thanh tẩy mạch nguồn tình cảm tuôn trào
Dạy anh cách sống mới-tình yêu&khát vọng.(*)

Ở SAPA
...
nhiều lần anh lãng mạn
Hái tặng em
Cành hoa tuyết
Đính hàng chuỗi ngôn từ yêu em yêu em
Lấp lánh.

(Trong THD.Hai Bài Thơ Mới)(*)

TẮM TRĂNG

Trộm nhìn ngực trần em lúc tắm trăng-thuở xuân thì chưa ong bướm dập dìu quyến dụ
Mùa trái chin căng tròn thơm thơm hương
thiếu nữ đến giờ cơn xoáy động luôn làm anh run rẫy
Vị ngọt bất ngờ đằm đằm ngày tháng khiến anh ngây ngất nhớ
Suối khe nguồn nước mát lành chảy tràn qua giấc ngủ khi lúc đầu vào bức tường gai góc cuộc đời toé máu vẫn mơ hoài
Chỉ một đêm em tắm trăng bên vườn nhà tròn vành vạch suốt đời anh.
(Trong: Thơ Tháng Năm) (*)
Nhà thơ đã diễn tả trọn vẹn chức năng của thơ mới hôm nay;mặc dù "thơ tân-hình-thức là thơ mới hơn thơ mới" (Khế Iêm). Trần Hữu Dũng đã chứng minh điều đó một cách trung thực của dòng thơ đương đại.
Vào vườn thơ ta bắt gặp nhà thơ xử dụng nhiều thể loại khác nhau: thơ tự do không vần thơ xuôi đều luồng vào một sinh khí siêu thực trừu tượng đem lại nhiều ấn tượng cho bài thơ tạo được lời âm của bài thơ thành một thi pháp mới lạ .

-LINH PHƯƠNG
: Mang nặng tính thơ nghệ thuật trình diễn (poetry art- performance) mặc dù nhà thơ duy trì thể thơ lục bát và thơ bảy chữ có nhiều bài thơ 6/8 đã biến thể thành thơ đếm bước (iambic-foot) nghe có duyên lạ! Dù xây dựng dạng thơ tân cổ điển (neo-classicalism) hay thơ cũ có niêm luật bằng trắc chặt chẽ nhưng vẫn giữ được phong vị của thơ mới. Thơ LP một thời đi vào thời thượng của thi nhạc điều ấy chứng tỏ dòng thơ trữ tình của Linh Phương luôn được đón nhận và được sắp xếp như một loại thơ hiện thực (realism) và lãng mạn (romanticism) một thể thơ được gọi là nhạy cảm của cảm giác (the age of sensibility) là những thể thơ ưa chuộng dành cho những tâm hồn đa cảm chính cái tồn tại đó đưa tác giả vào trào lưu đương đại. Có nhiều tác giả làm thơ lục bát ngủ ngôn thất ngôn bát cú (ngôn) rất sành sỏi nhưng LP được cái biết dụng ngôn làm cho thơ đi vào cõi siêu thoát. Một thể thơ thông thường nhưng phải có cảm xúc mạnh mới phản ảnh được những dòng thơ như thế. Đọc những bài thơ vần điệu mới thấy được chất thơ-tình-lãng-mạn của thi sĩ mới thấy được cái vượt thời gian mà LP để lại.

NÍU MÂY NHÌN XUỐNG
Níu mây nhìn xuống ngực gầy
Nghe thơm hương tóc những ngày thanh xuân
Dẫu mai vãn lục phai hồng
Mơ ba vạn kiếp tình nồng chưa tan.

THẬT GẦN BÊN NHAU

Nghiêng vai mà thấy thật gần
Bên nhau nắng xế đã tàn chiều hôm
Một vòng tay-một nụ hôn
Ái ân ngày cũ vẫn còn thiên thu.

KỶ VẬT CHO EM

Em hỏi anh bao giờ trở lại
Xin trả lời mai mốt anh về
...
Mai trở về chiều hoang trốn nắng
...
Anh nhìn em-anh cố sẽ quên
Tình nghĩa cũ một lần trăng trối.

(1970)

HƯƠNG ÁO TÍM
Một thời sau nữa xa vời vợi
Chim hót bên song tiếng ngậm ngùi
...
Mới hiểu quê người em vẫn đợi
Mùa thu biền biệt phấn thu vàng
...
Sóng sánh tình yêu thuở dại khờ.(*)
Ngôn từ và chữ nghĩa trong thơ LP là một hợp chất đầy sáng tạo của lối dụng ngôn thơ.

-LÊ VĨNH TÀI
: Làm thơ theo cách riêng của mình không đứng vào hàng ngủ thơ không trường phái không chủ nghĩa không thi tứ không vần điệu; tác giả gọi đó là thơ của thơ. Tưởng rằng lạ nhưng không; thơ của LVT là thơ hiện sinh chủ nghĩa (existialism) có những bài thơ tác giả làm như "thơ-truyện" trong thi ca gọi là thơ xuôi nghĩa là thơ bị lôi cuốn bởi cảm xúc tri giác một phần đưa sự vật hiện hữu vào tri thức đi thẳng vào nhận định thơ. Vì vậy nhà thơ đang muốn truyền hưởng lẽ sống trong sự tiếp xúc sự vật ngoại giới để xâm nhập vào thơ. Thể tạng đó được khám phá đồng thời với khám phá vũ trụ mơ về thực tại của hiện sinh tức mơ về với hiện hữu vì chính cái hội nhập giữa hai trạng thái nội giới và ngoại gìới để phát tiết những dòng thơ vừa mang tính siêu thực vừa mang tính hiện sinh. Descartes nói: "je pense donc je suis" cái suy tư của tác giả là hiện hữu đó là cái nhìn tâm thức để tạo nên nguồn thơ do chính mình nghĩ tới là ngôn từ của thi ca mà Lê Vĩnh Tài đã xử dụng một cách triệt để. Trong tập thơ THƠ HỎI THƠ ròng rã 50 bài thơ như 50 thể "truyện ngắn". Trích đoạn trong tập Thơ Hỏi Thơ để giảo nghiệm ý thức của nhà thơ hiện sinh nầy muốn cảm xúc gì với thơ để có được dòng thơ mới hôm nay:

THƠ I
có một bài thơ không có chữ không có dòng nào chỉ những ký hiệu @%^&#$$$ và được gọi là thơ cụ thể
trên lý thuyết con người ta có thể không có miệng (câm) không có tai (điếc) không có mắt(mù) và cũng là những con người cụ thể
chỉ những người không có tự do (tù) thì không thể là người cụ thể vì ngoài việc hít thở ra ta không còn biết gì về họ.(*). Đỡ lo
(*)xanh xanh lá thuộc bài ơi
từ em áo trắng rong chơi không về
(tức là chưa biết khi nào về)

VIẾT CHO NGƯỜI
ngày tháng đã chiêm bao chưa
quay lưng còn chưa gì nữa
dốc vẫn còn dốc chưa dài
đi về chưa trong cõi nhớ

chưa đốt điếu thuốc đầu ngày
khói vẫn chưa làn khói trắng
lặng lẽ như mây bay chưa
ta ngồi như chưa câm lặng

tít tắp một nụ chưa cười
xa thành xa chưa thăm thẳm
nước mắt hòn đá lăn chưa
đêm thành đêm chưa thức trắng

đã xa thành chưa thăm thẳm
người đã thành mù khơi chưa.(*)
Nói tóm lại thơ Lê Vĩnh Tài có cách riêng của Lê Vĩnh Tài nhưng rồi nó cũng nằm trong âm vận của thơ xuôi và thơ vô thức tức chủ-nghĩa-vô-nghĩa (nonsenselism) mà rất thịnh cho ngày nay. LVT có thực sự đại diện chủ nghĩa này cho thơ đương đại Việt Nam ?

-
TỪ HOÀI TẤN
: Làm thơ ở tuổi mới lớn với tâm thức tràn đầy hiện thực lớn dần với thời gian thơ; THT chuyển sang siêu thực và tượng trưng. Tác giả xử dụng ba thể loại trên một cách nhuần nhuyễn giữa ý và lời tạo một không gian ngôn ngữ đa dạng không khác gì thơ của Emily Dickinson và Elizabeth Bishop(Hoa kỳ) thường hay xử dụng những thể loại như thế và chính trong cái formalist surrealism và symbolism đã đưa nhà thơ thấy được sự nhiệm mầu của siêu hình; cho dù THT làm thơ lục bát thơ 5 chữ thơ 7 chữ hoặc thơ xuôi vẫn để trong thơ những ngôn từ mới lạ những dòng thơ đó là ý thức sáng tạo của ngôn ngữ thơ nhờ vào sự vận hành chữ nghĩa mà tạo nên những thi pháp trong thơ của Từ Hoài Tấn.
Đọc lại những bài thơ của THT để tìm thấy chất liệu (substance) mà nhà thơ dùng trong thơ của mình dưới những góc độ khác nhau:

HOÀNG HÔN NHỚ NẮNG

Nắng chiều chia nửa cho tôi
Một phương là tiếng môi cười vô thanh
Một phương là nỗi ngọn nghành
Âm vang ngày mới nắng hanh lối về
Ráng chiều nửa ngọn mân mê
Mai về dầu có phương quê đợi chờ

Tôi chia nửa nắng cho người
Hơ tình cho ấm một thời rét băng
Tôi chia tôi chút nắng tàn
Một ngày xa bước chân nàng mù khơi

Nắng chiều chia hết cho tôi
Ngày mai nữa lại chờ người ấy chăng?(*)

HUẾ CỦA NHỮNG MUÀ XUÂN
...
Hàng phượng đỏ ở Nội thành thường vẫn nở sớm trước ngày hè
Những người yêu nhau thường có lý do để gặp nhau trong một ngày xuân muộn
Con đường dài và cuộc tình chung
Những lời nguyền khắc trên vách tường thành xanh rêu
...

KHÚC SINH CA
...
Vác thanh gươm tình ái
Vòng đấu trường cô đơn
Ta cùng ta địch thủ
Mão vinh hiển ta tròng
...
Ba thể thơ ghi trên của Từ Hoài Tấn có ấn tượng đậm nét trong thể hiện thực siêu thực và tượng trưng cũng đủ nói lên sự góp mặt trong những dòng thơ đương đại ngày nay.

***

Thơ nằm dưới dạng nào trường phái nào thể thức nào nhất thiết phải là sáng tạo đó là vận hành của trào lưu thi tứ hôm nay cũng như bất cứ ở thời đại nào dù rằng thơ tập trung trong mảng xuất thần của trí tuệ (mind) và từ đó biến đổi ra thi pháp (versification) mới cho thơ và phát tiết những ngôn từ vốn đã nằm sẳn trong tiềm thức gây nên khi giao hợp với cảm hứng giữa ngoại quan và nội quan tạo được một tâm thức sống động cái sống động đó biến thể thơ qua những dạng thức khác nhau của các trường phái khác nhau... Đó là bản thể tồn tại trong trào lưu thơ đương đại hôm nay. Do đó muốn hội nhập vào dòng tư tưởng nầy người làm thơ đòi hỏi một cảm nhận trực giác để thơ đi vào nguồn mạch của sáng tạo một cách đích thực như thể đóng vai trò bảo vệ thơ góp mặt giữa đời này một cách phong phú và mầu nhiệm bởi thời đại chúng ta đang sống là thời đại của tung hô trình diễn thách đố giữa những tiến bộ kỷ thuật mà làm hư hoá vẻ "lộng lẫy"của thơ và liệu thơ có còn chức năng thơ để "nhâm nhi"cái tuyệt vời của nó ? hay là nhu cầu làm thơ cho có mặt với đời mà đánh mất đi bản thể của thơ. Bởi nhà thơ sống với "con chữ" của mình họ cân nhắc đắn đo từng câu từng giòng để thành thơ chớ không phải thơ là những tạo vật để trang trí hay thời trang của phấn son! Sợ những tạo vật đó làm mất chất thơ và "sản xuất" ào ạt thơ làm cho thơ trở nên tạp nham hồ đồ giữa một thị trường văn hóa không có chứng từ; một thứ phi-văn-hoá không còn tính siêu thoát của thơ và tính đương đại thời thượng.
Giới thiệu một số nhà thơ đã xuất hiện trong những năm gần đây cũng như những nhà thơ kỳ cựu trước và sau thời gian đổi mới văn hoá; nghĩa là họ "được phép" phát huy dòng sáng tạo của họ nhờ đó nhiều nhà thơ vượt ra khỏi khuôn phép của ngôn ngữ thơ cũng như ngôn ngữ văn chương họ không còn ngại những ước lệ cũ đã làm suy thoái nguồn sáng tạo của họ; đó là khuynh hướng đổi mới tư duy toàn diện kể cả sự đổi mới cho chính mình. Chúng tôi đưa ra hai thế hệ một thế hệ trẻ nữ phái và một thế hệ "lão thành" nam phái để độc giả khắp nơi nhận định những trường phái khác nhau với cách vận dụng khác nhau của mỗi nhà thơ và thấy được những dòng thơ đương đại hôm nay sánh vai ngang ngửa với văn đàn thế giới nói chung và văn thơ Việt Nam nói riêng.
Bài viết nầy chỉ là nhận định hạn hẹp trong một suy tư hạn hẹp. Mong vậy!

VÕ CÔNG LIÊM ( c.ab cuối 5/2010)
_____________________________


Sách tham khảo:
-(*)http://www.vanchuongviet.org
-Tân Hình Thức.Khế Iêm.NXB Văn Mới USA 2003
-Tạp chí Hợp Lưu#91.2006
-Writing Metrical Poetry (Contemporary poetry) by William Baer. Writer s Digest Books USA copyright.2006
-Three Genres by Stephen Minot. Pearson Prentice Hall.USA 2007
-La poétique de la Rêverie .Gaston Bachelard.P.U. de France 1960
-La poétique de l Espace. Gustave Flaubert P.U.France 1960

More...