Quán bánh xèo ở bìa rừng tràm - Truyện ngắn của LÊ MINH NHỰT

alt

 

NHỮNG ĐÁM MÂY BỐC CHÁY là tập truyện ngắn đầu tay của Lê Minh Nhựt - một tác giả 8X viết khá chắc tay của Hội VHNT Cà Mau vừa được NXB Văn Hóa - Văn Nghệ TP.HCM phát hành vào những ngày cuối tháng 4 vừa qua. Sau Nguyễn Ngọc Tư văn chương Cà Mau lại có thêm một niềm hy vọng mới.

Như một sự tình cờ có thể bạn gặp Lê Minh Nhựt ghi tên mình dưới mỗi truyện ngắn rất nhẹ nhàng mà cũng hết sức lém lỉnh ở đâu đó trên Thanh Niên Tuổi Trẻ cuối tuần Áo Trắng Văn Nghệ TP.HCM …

Nhân tập truyện ngắn đầu tay của Lê Minh Nhựt vừa ấn hành HTK xin gởi đến quý bạn đọc một truyện ngắn khá thú vị được chính tác giả chọn lọc từ tập NHỮNG ĐÁM MÂY BỐC CHÁY .

Mong nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của quý bạn đọc bạn viết và thân hữu dành cho Lê Minh Nhựt qua tập truyện ngắn đầu tay này.

Kính chúc quý bạn đọc bạn viết và thân hữu lời chúc sức khỏe hạnh phúc và thành đạt.

Trân trọng cảm ơn.

HUỲNH THÚY KIỀU

------------------------------------------------------------------------------------------

 alt


QUÁN BÁNH XÈO Ở BÌA RỪNG TRÀM

 

(Tặng Họa sĩ Khởi Huỳnh)

Truyện ngắn của Lê Minh Nhựt

 

 

Ngày nảy ngày nay ở bìa rừng tràm (bìa rừng tức là chưa lọt vô trong rừng mà chỉ lòng vòng bên ngoài chỗ mấy cái bảng “cấm lửa” “cấm săn bắn” “rừng là lá phổi quốc gia” …).

Khác với ngày xửa ngày xưa ở bìa rừng tràm ngày nảy ngày nay không có một ngôi nhà nào biết đi trên đôi chân gà; không có cô bé quàng khăn đỏ nào phải đi xuyên rừng để thăm bà ngoại bị ốm; không có chó sói; không có vợ chồng chằn tinh hung dữ…không có tất cả mọi thứ mà trong các truyện cổ tích trong nước hay ngoài nước đều có.

 

Muốn đến bìa rừng tràm thì không có gì khó khăn cả ngày nảy ngày nay chỉ cần một chiếc xe gắn máy đổ đầy bình xăng bon bon trên con lộ nhựa hơn tiếng đồng hồ. Nghe bàn dân thiên hạ đồn rằng con lộ hơn ba mươi cây số này được gấp rút hoàn thành hồi năm nẳm chỉ trong vài tháng…nhờ cháy rừng! Nhờ cháy rừng mà cư dân của bìa rừng tràm có lộ tráng nhựa thay cho việc chèo chống mỏi mê trên những con kênh vàng cháy nước phèn với từng bụm bù mắt đen kịt quất vào mặt mũi. Nhờ cháy rừng mà ngày nảy ngày nay ven theo con lộ nhựa láng cóng ấy chỗ dốc cầu kinh Một Rưỡi ngay bìa rừng mọc lên một cái quán bánh xèo.

 

Chủ quán bánh xèo ban đầu không phải là chủ quán bánh xèo(!) chỉ là một nông phụ vì chồng chị ta là nông phu ở bìa rừng tràm kiêm chủ tiệm tạp hóa kiêm nội trợ kiêm giặt giũ…vân vân…nói chung là kiêm đủ thứ mà một người đàn bà ở nông thôn (bị buộc) phải kiêm. Nhưng kiêm gì thì kiêm nông phụ chưa là chủ quán bánh xèo trước đó.

Trước cả trước đó nông phụ còn là một thiếu nữ mười bảy tuổi lẻ một tháng theo cha mẹ lênh đênh trên ghe. Số phận dun rủi (thực ra là cùng đường mạt lộ) xuống tới nơi này để cắt lúa mướn ở những cánh đồng ăn lõm vào rừng tràm. Người ta khoét dần rừng để làm ruộng ban đầu là chặt cây tràm đốt những mảng nhỏ sau đó lan dần thành những mẫu lớn giống như đốm lang ben xuất hiện trên da về sau đốm lang ben nhỏ nhoi ấy ăn lan ra toàn thân. Mùa qua mùa rừng bị đẩy lùi về phía xa còn chỗ trước kia là rừng đã trở thành bìa rừng thành ruộng nương vườn tược thành thổ cư đất lập vườn…thành nhiều thứ khác nữa nhưng không phải là rừng như trước kia.

 

Khi  cắt đến những vạt lúa cuối cùng của cánh đồng còn lởm chởm những gốc tràm sót lại sau trận đốt rừng thì cha mẹ của thiếu nữ mười bảy tuổi lẻ một tháng phát hiện cô con gái của mình đã biến đi đâu mất. Vùng rừng tràm trong câu chuyện của các bậc cao niên nơi đây luôn tồn tại những con rắn hổ mây lớn bằng cái khạp da bò; di chuyển chỉ bằng nửa thân dưới còn nửa thân trên cất cao bằng cả đọt tràm. Trên đường rắn hổ mây bò qua cây cối đều ngã rạp. Có người còn cả quyết khi mới đến vùng này vào ban đêm họ thường xuyên thấy rắn hổ mây khổng lồ đi kiếm ăn với cặp mắt lớn bằng nắm tay miệng liên tục phì phì phun nọc. Trong khi người vợ đấm ngực kêu trời vì “đứa con gái của mình giờ này chắc đã nằm gọn trong bụng rắn” thì người chồng tay cầm mác vót quần nát từng gốc tràm lùm choại để “tìm con rắn hổ mây khổng lồ mà rạch bụng nó đem xác con ra sống phải thấy người chết phải thấy xác”. Rốt cục người chồng tìm thấy con gái tại một đám năn cao lút đầu với thằng con trai của chủ ruộng trong tư thế của một cặp rắn. Hai đứa đã quần nát cả một đám năn rộng gần nửa công đất.

Sau đó thì thiếu nữ mười bảy tuổi lẻ một tháng được lên bờ và trở thành nông phụ ở xứ tràm (cái trò rắn ở giữa đám năn đó quả là có lợi); cha mẹ của cô trở lại ghe tiếp tục đời lênh đênh (vì họ không có can đảm diễn trò rắn như con gái của mình?!).

 

Vào năm đứa con gái được mười lăm tuổi thì nông phụ bị chồng bỏ! Đây là cách diễn đạt chính xác nhất về hoàn cảnh của một nông phụ ba mươi hai tuổi lẻ một tháng.

Ngủ một đêm tới sáng thức dậy nhìn sang chỗ chồng nằm: vắng ngắt! Tới giờ cơm ra sau chái nhà bắc loa tay hú thật lớn về phía rừng một hồi hai hồi ba hồi: không nghe tiếng hú đáp trả! Đến tối: nằm lăn lóc trên chiếc giường trống trơn quờ tay tứ phía chỉ toàn là mùng với chiếu! Một ngày hai ngày một tháng hai tháng vẫn vậy…đích thị là chồng bỏ rồi còn gì?!

Chồng bỏ tháng trước tháng sau nông phụ cùng con gái khiêng bếp lò xoong chảo ra trước nhà nổi lửa rừng rực. Ai đi ngang cũng dừng lại thắc mắc hỏi han: Bị chồng bỏ rồi còn làm gì vậy bà nội? Chiên bánh xèo chồng bỏ thì cũng phải tiếp tục mần ăn để sống chớ có phải chết đâu mà không làm! Cứ tưởng hỏi vậy để chọc nông phụ nổi nóng sửng cồ chơi ai dè chồng bỏ thì cũng nhẹ hẫng như không. Vậy bánh xèo chắc là có bán chớ? Ừa mua thì bán mẹ con tui đâu có tính ăn bánh xèo trừ cơm!

 

Vậy là kể từ đó ngày nảy ngày nay nông phụ trở thành chủ quán bánh xèo ở cầu kinh Một Rưỡi bìa rừng tràm.

Chủ quán bánh xèo (từ nay cứ gọi là chị cho ngắn gọn) chưa từng đặt chân qua bìa rừng tràm phía bên kia. Khi trước (tức là lúc chồng chưa bỏ) cũng từng có ý định nhưng mỗi khi vừa mở miệng là chồng chị lại gạt phăng: bên kia cũng giống như bên mình thôi chớ có con khỉ khô gì đâu mà đòi đi! Lâu dần trong tâm trí chị cũng quen rằng: Bên kia không có con khỉ khô nào. Đến bây giờ mặc dù cũng chưa qua đến đó nhưng chị đã biết chắc rằng: bìa rừng tràm phía bên kia đã có hơn cả con khỉ khô một thứ mà trước giờ chưa từng ai nhìn thấy đó là tổ của con chuồn chuồn!

 

Hàng xóm láng giềng bảo rằng chị nên qua phía bên kia bìa rừng tràm một lần. Để làm gì? Thì quậy tới bến cho biết mặt! Quậy là quậy làm sao? Quậy là đánh ghen đó bợp tay vào mặt con quỷ cái giựt chồng người khác không thôi người ta nói mình ngu! Ủa con quỷ đó đâu có giựt chồng của tui tại chồng tui theo nó đó chớ! Hết nói nổi bà khùng này luôn!

Quán bánh xèo luôn đông khách nhất là vào buổi sáng sớm và chiều tối. Dân ở đây không có thói quen ăn sáng nhưng từ khi có quán tụi học sinh sáng nào cũng tạt vào bỏ bụng mỗi đứa một cái rồi mới đi học; cũng có khi dân đi ruộng gác kèo ong chơi sang rủ nhau vào…ăn chịu để đó đợi bán lúa bán mật ong trả một lần. Chiều tối dân trong rừng từ lúc có quán bánh xèo cũng siêng đi chơi đêm nói đi chơi cho sang chớ huỵch toẹt ra là đi ăn bánh xèo ở kinh Một Rưỡi rồi về ngủ. Mà chẳng lẽ chỉ ăn bánh xèo suông thì cũng vô duyên vậy là kêu vài xị đế để đưa cay. Vậy là cũng xỉn như ai!

Bánh xèo ở cầu kinh Một Rưỡi chỉ bằng bàn tay xòe của người lớn vài cọng giá ốm tong teo vài ba miếng thịt không đáng gọi là thịt vì nó chỉ bằng cỡ đầu đũa ăn. Lớp bột mỏng dính như lớp phấn của cô gái nhà nghèo từ nhỏ đến lớn lần đầu tiên được người yêu mua cho hộp phấn trang điểm rẻ tiền bằng tiền bán cá cắm câu hồi đêm. Cô chỉ dám dùng mỗi lần một ít chỉ khi nào đi chơi với người yêu mà thôi dè sẻn đến nỗi lúc cô dùng phấn hay không dùng phấn thì người khác cũng chẳng thấy khác biệt là bao. Chỉ có người yêu cô là biết rõ vì anh ta đi sát bên…nên ngửi được mùi.

Ấy là khi ăn đến no nê béo ngậy mồm miệng thực khách mới dám xì xầm chê bai món bánh xèo ở cầu kinh Một Rưỡi và đem nó ra so sánh với món bánh xèo ở chợ tỉnh – thứ mà có lần họ từng nếm thử với giá cắt cổ (hoặc chỉ nghe loáng thoáng từ người khác). Bánh xèo ở ngoài tỉnh chỉ dòm thôi là đã thấy thèm đã có cảm giác no nê lan tỏa khắp người; chiếc bánh tròn trịa mập mạp đầy đặn vàng hực tươm đầy dầu mỡ phần nhân thịt thì khỏi nói thịt đúng là thịt. Nói chung bánh ở cầu kinh Một Rưỡi chẳng là cái nghĩa địa gì cả…

Ấy là khi họ ăn no. Ngày hôm sau chính cái người chê nhiều nhất lại đến sớm nhất ngồi đồng ở quán để chờ cái bánh xèo đầu tiên vừa rời chảo.

Dân rừng tràm cho rằng nguyên nhân là do món rau rừng.

Thực lòng mà nói thì mấy loại rau này có thể tìm thấy bất cứ đâu trong vườn nhà cặp mé ao đìa dọc hai bên đường đi ven bìa rừng…Khi đó chúng chưa được coi là rau mà chỉ là những loại cỏ khả dĩ ăn được khi trong nhà không còn thứ rau nào khác để bỏ vào miệng. Nhưng khi những loại cỏ đó hiện diện trên bàn ăn trong quán bánh xèo ở cầu kinh Một Rưỡi thì lại khác rồi chúng đường hoàng được gọi một cách trang trọng là rau: rau the lá lụa lá chòi mòi lá cát lòi lá cơm nguội lá cách…

 

“Đố cha thằng nào vô đây ăn bánh xèo mà dám kêu rằng: Ê chủ quán cho một rổ cỏ coi!” – Bảy Lưu Linh dằn mạnh chai rượu xuống bàn trước mặt thằng Tuấn “đèo” miệng mồm đang nhồm nhoàm dầu mỡ - Mày thử nói coi đây là rau hay cỏ? – Lão Bảy chỉ tay vô mớ rau đang chạy vô miệng thằng Tuấn còn tay kia thì dứ dứ chai rượu trước mặt thằng Tuấn. R…a…u! - Tuấn “đèo” phồng mang trợn mắt cố ực một tiếng đẩy mớ rau xuống cổ họng thở hổn hển. Vậy rau có ngon không? Bảy Lưu Linh vẫn chưa chịu buông tha thằng nhỏ. Dạ rau ngon ngon lắm! Coi mòi Tuấn “đèo” đã muốn xỉu lão Bảy mới kề miệng phả sặc sụa mùi rượu vô sát tai thằng Tuấn: Nói cho mày biết trước khi hái rau bao giờ tao cũng đái vô gốc cây một lượt bởi vậy mới ngon mày mà hở răng ra với ai là chết với tao!

 

Bảy Lưu Linh tên thật là Bảy Linh nhưng vì nhậu như hũ chìm nên được dân rừng tràm lấy luôn tên của ma men Lưu Linh để đặt cho. Lão Bảy là mối duy nhất cung cấp rau cho quán bánh xèo cầu kinh Một Rưỡi. Ngoài khả năng uống rượu như uống nước lã ra lão còn là một con ma rừng đệ nhứt xứ tràm. Bảy Lưu Linh luôn là mục tiêu truy đuổi của lực lượng kiểm lâm vì lão chuyên lén lút tận khu vực rừng cấm để gác kèo ong mật. Ngó bên ngoài lão ốm nhách lòng thòng lúc nào cũng kè kè chai rượu đi đứng không xong vậy mà lầm. Vô được rừng lão lẩn nhanh như lươn chui xuống sình không ngóc ngách nào mà lão không biết. Bảy Lưu Linh thuộc rừng như lòng bàn tay của mình. Đối với lão rừng tràm là cái hộc tủ của riêng mình. Cần dùng thứ gì là xách dao vô rừng chỉ một buổi đem ra ôi thôi cá mắm rùa rắn mật ong. Lão chỉ bán đủ tiền để mua gạo mắm muối vài thứ lặt vặt cần thiết cho nhu cầu tối thiểu của một lão già độc thân. Còn lại Bảy Lưu Linh đem đổi rượu hết. Lực lượng kiểm lâm nhiều lần điên đầu với con ma rừng này nhất là vào mùa khô hạn thông báo cấm vào rừng gác kèo ong đối với lão ma rừng dường như chỉ là một lời nói chơi không hơn không kém. Cấm buổi sáng thì đến trưa đã thấy lão lót tót luồn lách để chui vào cái tủ của mình. Kiểm lâm rượt đuổi rần rần phía sau thì đằng trước Bảy Lưu Linh lúc ẩn lúc hiện sau những gốc tràm lùm dây choại rậm rịt. Chỉ lát sau là mất dấu lão chỉ vẳng lại tiếng léo nhéo khật khừ của Bảy Lưu Linh như trêu chọc: Làm gì dữ vậy tụi bây tao vô thẻo cục mật về xài lát ra liền không có đem theo lửa khói đâu mà sợ cháy!

Lấy ong mật mà không đem theo lửa khói thì có ma nó tin nhưng có lần kiểm lâm mai phục ngay kèo ong của lão đã tận mắt chứng kiến con ma rừng này thổi…hơi vào tổ ong cả đàn ong lập tức tản ra rúm ró về một phía đầu kèo thế là lão ung dung dùng mác vót cắt một tảng mật tổ bố bỏ vào thùng. Lúc đè được con ma rừng xuống đất lục soát khắp người thì chẳng tìm thấy hột quẹt hay nhang khói chi cả. Tờ biên bản của kiểm lâm đến nay còn cất trong hộc tủ phần tang vật ghi vỏn vẹn: 01 cây mác vót 01 thùng đựng mật 01 tảng mật.

Từ dạo ấy danh tiếng của Bảy Lưu Linh ở xứ tràm đã nổi nay còn nổi hơn. Người ta đặt hẳn một câu chuyện đầy huyền thoại về lão: Rượu đối với con ma men này đã thành máu thịt thành hơi thở nên đi lấy ong mật không cần đem theo lửa khói. Chỉ cần kê miệng vào tổ ong thổi phù vài hơi là cả đàn ong đều xỉn rượu hết thấy đường sá chi mà đánh nữa. Có người thì bảo rằng: tầm bậy làm gì có chuyện ong xỉn rượu! Chẳng qua là lão già này có phương thuốc bí truyền để lấy ong mà khỏi bị đánh. Bằng chứng là trước lúc vào rừng lấy ong lần nào lão cũng nhai nhồm nhoàm cả nắm lá cây gì đó mà chưa ai từng thấy bao giờ. Đích thị đó là loại lá thuốc để lấy ong.

 

Bây giờ thì Bảy Lưu Linh chẳng còn vào rừng để lấy ong nữa vì kể từ khi quán bánh xèo kinh Một Rưỡi khai trương lão đã có mối cung cấp rượu. Với biệt tài đi rừng của mình chỉ cần vài chục phút đồng hồ là lão đã lôi từ ngăn tủ của mình ra hằng hà sa số các loại rau cỏ dùng để ăn kèm với bánh xèo. Cứ mỗi lần đổi rau là lão lại được đầy một chai ba xị; cứ mỗi lần đem cái chai trống rỗng ấy đến quán là lão lại hù thằng Tuấn “đèo” một trận xanh mặt. Và chỉ có thằng Tuấn “đèo” mới sợ Bảy Lưu Linh chứ tụi con nít trong xóm coi lão như một gã hề chọc cho đỡ buồn không hơn. Lý do để thằng Tuấn sợ Bảy Lưu Linh thì chỉ có lão với nó biết: Đó là con ma men này đã bắt trúng tim đen của thằng nhỏ! 

Có lần Bảy Lưu Linh đem rau tới quán để đổi rượu thì bắt gặp thằng Tuấn “đèo” dòm không nháy mắt vô cổ áo con Lụa – con của chủ quán đang dọn dẹp chén đũa trên bàn. Chết cha mày rồi con ơi! Đợi con nhỏ quay vô nhà Bảy Lưu Linh mới túm lấy cổ áo thằng Tuấn “đèo”: Ê dòm vú lén hả mậy? Đâu…đâu có đâu! Tui dòm hồi nào ông già? Thằng Tuấn đèo mặt mày sượng ngắt. Khỏi chối tao thấy hết tao mà méc lại là con mẹ nó xé xác mày ra sau đó báo lại với kiểm lâm…Báo kiểm lâm làm gì? Mày đúng là cái thằng điếc nhứt xứ kiểm lâm vừa có thông báo thằng nào dám dòm vú con gái bất hợp pháp là đuổi khỏi rừng tràm. Nghe rõ chưa con?!

Bị đuổi khỏi rừng là tàn mạng bởi Tuấn “đèo” không còn biết đi đâu nữa. Mười bảy năm trước nó đến nơi này trong chiếc giỏ đệm treo trên nhánh tràm dưới chân chòi canh lửa may mà chưa bị kiến vàng cắn cho tới chết nhưng hình như ở trong giỏ lâu quá nên không lớn nổi nên mới còi cọc chết danh “đèo”. Bây giờ mà bị đuổi ra khỏi nơi này chỉ vì cái tội dòm vú con gái bất hợp pháp thì đúng là lãng nhách. Thế nên nó đành ngậm bồ hòn với Bảy Lưu Linh cho lão già này lên mặt với nó cũng chẳng mất mát gì miễn là nó còn được ở lại xứ này mỗi sáng lại được gặp mặt con Lụa ở quán bánh xèo cầu kinh Một Rưỡi. Để được nghe con nhỏ này hỏi nó dẫu chỉ một câu cũ mèm duy nhứt trong ngày: Ê “đèo” mấy cái?

 

Một ngày nào đó của ngày nảy ngày nay giữa mùa khô có người trở về từ phía bên kia rừng tràm.

Nông phu về đòi lại những thứ thuộc về anh ta. Mấy công đất ruộng vẫn còn lởm chởm gốc tràm. Chiếc tivi màu mười bốn in mua hồi năm trúng lúa. Những thứ chia đôi được đều chia đôi không từ cả nồi niêu xoong chảo chén đũa…

Ngoại trừ người đàn bà đã quên mất tuổi của mình. Chị không còn là nông phụ nữa mà đã trở thành chủ quán bánh xèo ở kinh Một Rưỡi. Chủ quán bánh xèo thì chưa bao giờ là thứ thuộc về anh ta.

Nông phu vẫn còn nhớ mình có một đứa con gái anh ta đưa mắt nhìn nó. Con Lụa cụp mắt xuống chảo bánh xèo bốc khói khét nghẹt. Cha tui chết rồi!

Nông phu thấy mình đã trở thành kẻ cướp kể từ giờ phút này.

 

Chủ quán bánh xèo đi đâu? Đi đâu? Dân rừng tràm nháo nhác hỏi nhau khi sau cái ngày nào đó của ngày nảy ngày nay nơi cầu kinh Một Rưỡi chỉ còn trơ lại cái xác nhà. Không còn bánh xèo. Không còn rau rừng. Không còn chỗ cho Bảy Lưu Linh đổi rau lấy ba xị rượu. Không còn con Lụa để thằng Tuấn “đèo” được nghe câu cũ mèm duy nhứt: Ê “đèo” mấy cái?

Không còn tất cả mà mới đây ở cầu kinh Một Rưỡi đã từng có.

Bảy Lưu Linh lại trở về như trước kia luồn lách như ma trong rừng tràm và chơi trò trốn tìm với kiểm lâm.

Tuấn “đèo” chiều nào cũng đến chỗ cái xác nhà ngồi y nguyên ngay chỗ cũ miệng lảm nhảm: Đổ cho tui ba cái bánh xèo Lụa ơi! Kể từ đó chẳng còn ai nhớ cái tên Tuấn của nó nữa dân rừng tràm đều gọi nó là thằng “Đèo khùng” đang thất tình con của chủ quán bánh xèo.

“Đèo khùng” nơi cái xác nhà hôm nào cũng mời khách đi đường tạt vô “ăn bánh xèo” và nghe nó kể chuyện ngày nảy ngày nay: về cái quán bánh xèo cầu kinh Một Rưỡi cùng mối tình không bao giờ lớn của mình với con Lụa. Con nhỏ đã nhiều lần “tỏ tình” với nó chỉ bằng câu: Ê “đèo” mấy cái?./.

( Tác giả tự chọn từ tập truyện ngắn NHỮNG ĐÁM MÂY BỐC CHÁY )


alt

H.T.K

Chào Minh Họa Nhựt vui vì lời chúc mừng này thay mặt xin cảm ơn!

Minh Họa

Làng văn có thêm bạn mới
Cà Mau có thêm chàng Văn
chúc mừng tác giả và chúc mừng vì gặp lại em trên trang blogs này.