Quán bánh xèo ở bìa rừng tràm - Truyện ngắn của LÊ MINH NHỰT

By Huỳnh Thúy Kiều

alt

 

NHỮNG ĐÁM MÂY BỐC CHÁY là tập truyện ngắn đầu tay của Lê Minh Nhựt - một tác giả 8X viết khá chắc tay của Hội VHNT Cà Mau vừa được NXB Văn Hóa - Văn Nghệ TP.HCM phát hành vào những ngày cuối tháng 4 vừa qua. Sau Nguyễn Ngọc Tư văn chương Cà Mau lại có thêm một niềm hy vọng mới.

Như một sự tình cờ có thể bạn gặp Lê Minh Nhựt ghi tên mình dưới mỗi truyện ngắn rất nhẹ nhàng mà cũng hết sức lém lỉnh ở đâu đó trên Thanh Niên Tuổi Trẻ cuối tuần Áo Trắng Văn Nghệ TP.HCM …

Nhân tập truyện ngắn đầu tay của Lê Minh Nhựt vừa ấn hành HTK xin gởi đến quý bạn đọc một truyện ngắn khá thú vị được chính tác giả chọn lọc từ tập NHỮNG ĐÁM MÂY BỐC CHÁY .

Mong nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của quý bạn đọc bạn viết và thân hữu dành cho Lê Minh Nhựt qua tập truyện ngắn đầu tay này.

Kính chúc quý bạn đọc bạn viết và thân hữu lời chúc sức khỏe hạnh phúc và thành đạt.

Trân trọng cảm ơn.

HUỲNH THÚY KIỀU

------------------------------------------------------------------------------------------

 alt


QUÁN BÁNH XÈO Ở BÌA RỪNG TRÀM

 

(Tặng Họa sĩ Khởi Huỳnh)

Truyện ngắn của Lê Minh Nhựt

 

 

Ngày nảy ngày nay ở bìa rừng tràm (bìa rừng tức là chưa lọt vô trong rừng mà chỉ lòng vòng bên ngoài chỗ mấy cái bảng “cấm lửa” “cấm săn bắn” “rừng là lá phổi quốc gia” …).

Khác với ngày xửa ngày xưa ở bìa rừng tràm ngày nảy ngày nay không có một ngôi nhà nào biết đi trên đôi chân gà; không có cô bé quàng khăn đỏ nào phải đi xuyên rừng để thăm bà ngoại bị ốm; không có chó sói; không có vợ chồng chằn tinh hung dữ…không có tất cả mọi thứ mà trong các truyện cổ tích trong nước hay ngoài nước đều có.

 

Muốn đến bìa rừng tràm thì không có gì khó khăn cả ngày nảy ngày nay chỉ cần một chiếc xe gắn máy đổ đầy bình xăng bon bon trên con lộ nhựa hơn tiếng đồng hồ. Nghe bàn dân thiên hạ đồn rằng con lộ hơn ba mươi cây số này được gấp rút hoàn thành hồi năm nẳm chỉ trong vài tháng…nhờ cháy rừng! Nhờ cháy rừng mà cư dân của bìa rừng tràm có lộ tráng nhựa thay cho việc chèo chống mỏi mê trên những con kênh vàng cháy nước phèn với từng bụm bù mắt đen kịt quất vào mặt mũi. Nhờ cháy rừng mà ngày nảy ngày nay ven theo con lộ nhựa láng cóng ấy chỗ dốc cầu kinh Một Rưỡi ngay bìa rừng mọc lên một cái quán bánh xèo.

 

Chủ quán bánh xèo ban đầu không phải là chủ quán bánh xèo(!) chỉ là một nông phụ vì chồng chị ta là nông phu ở bìa rừng tràm kiêm chủ tiệm tạp hóa kiêm nội trợ kiêm giặt giũ…vân vân…nói chung là kiêm đủ thứ mà một người đàn bà ở nông thôn (bị buộc) phải kiêm. Nhưng kiêm gì thì kiêm nông phụ chưa là chủ quán bánh xèo trước đó.

Trước cả trước đó nông phụ còn là một thiếu nữ mười bảy tuổi lẻ một tháng theo cha mẹ lênh đênh trên ghe. Số phận dun rủi (thực ra là cùng đường mạt lộ) xuống tới nơi này để cắt lúa mướn ở những cánh đồng ăn lõm vào rừng tràm. Người ta khoét dần rừng để làm ruộng ban đầu là chặt cây tràm đốt những mảng nhỏ sau đó lan dần thành những mẫu lớn giống như đốm lang ben xuất hiện trên da về sau đốm lang ben nhỏ nhoi ấy ăn lan ra toàn thân. Mùa qua mùa rừng bị đẩy lùi về phía xa còn chỗ trước kia là rừng đã trở thành bìa rừng thành ruộng nương vườn tược thành thổ cư đất lập vườn…thành nhiều thứ khác nữa nhưng không phải là rừng như trước kia.

 

Khi  cắt đến những vạt lúa cuối cùng của cánh đồng còn lởm chởm những gốc tràm sót lại sau trận đốt rừng thì cha mẹ của thiếu nữ mười bảy tuổi lẻ một tháng phát hiện cô con gái của mình đã biến đi đâu mất. Vùng rừng tràm trong câu chuyện của các bậc cao niên nơi đây luôn tồn tại những con rắn hổ mây lớn bằng cái khạp da bò; di chuyển chỉ bằng nửa thân dưới còn nửa thân trên cất cao bằng cả đọt tràm. Trên đường rắn hổ mây bò qua cây cối đều ngã rạp. Có người còn cả quyết khi mới đến vùng này vào ban đêm họ thường xuyên thấy rắn hổ mây khổng lồ đi kiếm ăn với cặp mắt lớn bằng nắm tay miệng liên tục phì phì phun nọc. Trong khi người vợ đấm ngực kêu trời vì “đứa con gái của mình giờ này chắc đã nằm gọn trong bụng rắn” thì người chồng tay cầm mác vót quần nát từng gốc tràm lùm choại để “tìm con rắn hổ mây khổng lồ mà rạch bụng nó đem xác con ra sống phải thấy người chết phải thấy xác”. Rốt cục người chồng tìm thấy con gái tại một đám năn cao lút đầu với thằng con trai của chủ ruộng trong tư thế của một cặp rắn. Hai đứa đã quần nát cả một đám năn rộng gần nửa công đất.

Sau đó thì thiếu nữ mười bảy tuổi lẻ một tháng được lên bờ và trở thành nông phụ ở xứ tràm (cái trò rắn ở giữa đám năn đó quả là có lợi); cha mẹ của cô trở lại ghe tiếp tục đời lênh đênh (vì họ không có can đảm diễn trò rắn như con gái của mình?!).

 

Vào năm đứa con gái được mười lăm tuổi thì nông phụ bị chồng bỏ! Đây là cách diễn đạt chính xác nhất về hoàn cảnh của một nông phụ ba mươi hai tuổi lẻ một tháng.

Ngủ một đêm tới sáng thức dậy nhìn sang chỗ chồng nằm: vắng ngắt! Tới giờ cơm ra sau chái nhà bắc loa tay hú thật lớn về phía rừng một hồi hai hồi ba hồi: không nghe tiếng hú đáp trả! Đến tối: nằm lăn lóc trên chiếc giường trống trơn quờ tay tứ phía chỉ toàn là mùng với chiếu! Một ngày hai ngày một tháng hai tháng vẫn vậy…đích thị là chồng bỏ rồi còn gì?!

Chồng bỏ tháng trước tháng sau nông phụ cùng con gái khiêng bếp lò xoong chảo ra trước nhà nổi lửa rừng rực. Ai đi ngang cũng dừng lại thắc mắc hỏi han: Bị chồng bỏ rồi còn làm gì vậy bà nội? Chiên bánh xèo chồng bỏ thì cũng phải tiếp tục mần ăn để sống chớ có phải chết đâu mà không làm! Cứ tưởng hỏi vậy để chọc nông phụ nổi nóng sửng cồ chơi ai dè chồng bỏ thì cũng nhẹ hẫng như không. Vậy bánh xèo chắc là có bán chớ? Ừa mua thì bán mẹ con tui đâu có tính ăn bánh xèo trừ cơm!

 

Vậy là kể từ đó ngày nảy ngày nay nông phụ trở thành chủ quán bánh xèo ở cầu kinh Một Rưỡi bìa rừng tràm.

Chủ quán bánh xèo (từ nay cứ gọi là chị cho ngắn gọn) chưa từng đặt chân qua bìa rừng tràm phía bên kia. Khi trước (tức là lúc chồng chưa bỏ) cũng từng có ý định nhưng mỗi khi vừa mở miệng là chồng chị lại gạt phăng: bên kia cũng giống như bên mình thôi chớ có con khỉ khô gì đâu mà đòi đi! Lâu dần trong tâm trí chị cũng quen rằng: Bên kia không có con khỉ khô nào. Đến bây giờ mặc dù cũng chưa qua đến đó nhưng chị đã biết chắc rằng: bìa rừng tràm phía bên kia đã có hơn cả con khỉ khô một thứ mà trước giờ chưa từng ai nhìn thấy đó là tổ của con chuồn chuồn!

 

Hàng xóm láng giềng bảo rằng chị nên qua phía bên kia bìa rừng tràm một lần. Để làm gì? Thì quậy tới bến cho biết mặt! Quậy là quậy làm sao? Quậy là đánh ghen đó bợp tay vào mặt con quỷ cái giựt chồng người khác không thôi người ta nói mình ngu! Ủa con quỷ đó đâu có giựt chồng của tui tại chồng tui theo nó đó chớ! Hết nói nổi bà khùng này luôn!

Quán bánh xèo luôn đông khách nhất là vào buổi sáng sớm và chiều tối. Dân ở đây không có thói quen ăn sáng nhưng từ khi có quán tụi học sinh sáng nào cũng tạt vào bỏ bụng mỗi đứa một cái rồi mới đi học; cũng có khi dân đi ruộng gác kèo ong chơi sang rủ nhau vào…ăn chịu để đó đợi bán lúa bán mật ong trả một lần. Chiều tối dân trong rừng từ lúc có quán bánh xèo cũng siêng đi chơi đêm nói đi chơi cho sang chớ huỵch toẹt ra là đi ăn bánh xèo ở kinh Một Rưỡi rồi về ngủ. Mà chẳng lẽ chỉ ăn bánh xèo suông thì cũng vô duyên vậy là kêu vài xị đế để đưa cay. Vậy là cũng xỉn như ai!

Bánh xèo ở cầu kinh Một Rưỡi chỉ bằng bàn tay xòe của người lớn vài cọng giá ốm tong teo vài ba miếng thịt không đáng gọi là thịt vì nó chỉ bằng cỡ đầu đũa ăn. Lớp bột mỏng dính như lớp phấn của cô gái nhà nghèo từ nhỏ đến lớn lần đầu tiên được người yêu mua cho hộp phấn trang điểm rẻ tiền bằng tiền bán cá cắm câu hồi đêm. Cô chỉ dám dùng mỗi lần một ít chỉ khi nào đi chơi với người yêu mà thôi dè sẻn đến nỗi lúc cô dùng phấn hay không dùng phấn thì người khác cũng chẳng thấy khác biệt là bao. Chỉ có người yêu cô là biết rõ vì anh ta đi sát bên…nên ngửi được mùi.

Ấy là khi ăn đến no nê béo ngậy mồm miệng thực khách mới dám xì xầm chê bai món bánh xèo ở cầu kinh Một Rưỡi và đem nó ra so sánh với món bánh xèo ở chợ tỉnh – thứ mà có lần họ từng nếm thử với giá cắt cổ (hoặc chỉ nghe loáng thoáng từ người khác). Bánh xèo ở ngoài tỉnh chỉ dòm thôi là đã thấy thèm đã có cảm giác no nê lan tỏa khắp người; chiếc bánh tròn trịa mập mạp đầy đặn vàng hực tươm đầy dầu mỡ phần nhân thịt thì khỏi nói thịt đúng là thịt. Nói chung bánh ở cầu kinh Một Rưỡi chẳng là cái nghĩa địa gì cả…

Ấy là khi họ ăn no. Ngày hôm sau chính cái người chê nhiều nhất lại đến sớm nhất ngồi đồng ở quán để chờ cái bánh xèo đầu tiên vừa rời chảo.

Dân rừng tràm cho rằng nguyên nhân là do món rau rừng.

Thực lòng mà nói thì mấy loại rau này có thể tìm thấy bất cứ đâu trong vườn nhà cặp mé ao đìa dọc hai bên đường đi ven bìa rừng…Khi đó chúng chưa được coi là rau mà chỉ là những loại cỏ khả dĩ ăn được khi trong nhà không còn thứ rau nào khác để bỏ vào miệng. Nhưng khi những loại cỏ đó hiện diện trên bàn ăn trong quán bánh xèo ở cầu kinh Một Rưỡi thì lại khác rồi chúng đường hoàng được gọi một cách trang trọng là rau: rau the lá lụa lá chòi mòi lá cát lòi lá cơm nguội lá cách…

 

“Đố cha thằng nào vô đây ăn bánh xèo mà dám kêu rằng: Ê chủ quán cho một rổ cỏ coi!” – Bảy Lưu Linh dằn mạnh chai rượu xuống bàn trước mặt thằng Tuấn “đèo” miệng mồm đang nhồm nhoàm dầu mỡ - Mày thử nói coi đây là rau hay cỏ? – Lão Bảy chỉ tay vô mớ rau đang chạy vô miệng thằng Tuấn còn tay kia thì dứ dứ chai rượu trước mặt thằng Tuấn. R…a…u! - Tuấn “đèo” phồng mang trợn mắt cố ực một tiếng đẩy mớ rau xuống cổ họng thở hổn hển. Vậy rau có ngon không? Bảy Lưu Linh vẫn chưa chịu buông tha thằng nhỏ. Dạ rau ngon ngon lắm! Coi mòi Tuấn “đèo” đã muốn xỉu lão Bảy mới kề miệng phả sặc sụa mùi rượu vô sát tai thằng Tuấn: Nói cho mày biết trước khi hái rau bao giờ tao cũng đái vô gốc cây một lượt bởi vậy mới ngon mày mà hở răng ra với ai là chết với tao!

 

Bảy Lưu Linh tên thật là Bảy Linh nhưng vì nhậu như hũ chìm nên được dân rừng tràm lấy luôn tên của ma men Lưu Linh để đặt cho. Lão Bảy là mối duy nhất cung cấp rau cho quán bánh xèo cầu kinh Một Rưỡi. Ngoài khả năng uống rượu như uống nước lã ra lão còn là một con ma rừng đệ nhứt xứ tràm. Bảy Lưu Linh luôn là mục tiêu truy đuổi của lực lượng kiểm lâm vì lão chuyên lén lút tận khu vực rừng cấm để gác kèo ong mật. Ngó bên ngoài lão ốm nhách lòng thòng lúc nào cũng kè kè chai rượu đi đứng không xong vậy mà lầm. Vô được rừng lão lẩn nhanh như lươn chui xuống sình không ngóc ngách nào mà lão không biết. Bảy Lưu Linh thuộc rừng như lòng bàn tay của mình. Đối với lão rừng tràm là cái hộc tủ của riêng mình. Cần dùng thứ gì là xách dao vô rừng chỉ một buổi đem ra ôi thôi cá mắm rùa rắn mật ong. Lão chỉ bán đủ tiền để mua gạo mắm muối vài thứ lặt vặt cần thiết cho nhu cầu tối thiểu của một lão già độc thân. Còn lại Bảy Lưu Linh đem đổi rượu hết. Lực lượng kiểm lâm nhiều lần điên đầu với con ma rừng này nhất là vào mùa khô hạn thông báo cấm vào rừng gác kèo ong đối với lão ma rừng dường như chỉ là một lời nói chơi không hơn không kém. Cấm buổi sáng thì đến trưa đã thấy lão lót tót luồn lách để chui vào cái tủ của mình. Kiểm lâm rượt đuổi rần rần phía sau thì đằng trước Bảy Lưu Linh lúc ẩn lúc hiện sau những gốc tràm lùm dây choại rậm rịt. Chỉ lát sau là mất dấu lão chỉ vẳng lại tiếng léo nhéo khật khừ của Bảy Lưu Linh như trêu chọc: Làm gì dữ vậy tụi bây tao vô thẻo cục mật về xài lát ra liền không có đem theo lửa khói đâu mà sợ cháy!

Lấy ong mật mà không đem theo lửa khói thì có ma nó tin nhưng có lần kiểm lâm mai phục ngay kèo ong của lão đã tận mắt chứng kiến con ma rừng này thổi…hơi vào tổ ong cả đàn ong lập tức tản ra rúm ró về một phía đầu kèo thế là lão ung dung dùng mác vót cắt một tảng mật tổ bố bỏ vào thùng. Lúc đè được con ma rừng xuống đất lục soát khắp người thì chẳng tìm thấy hột quẹt hay nhang khói chi cả. Tờ biên bản của kiểm lâm đến nay còn cất trong hộc tủ phần tang vật ghi vỏn vẹn: 01 cây mác vót 01 thùng đựng mật 01 tảng mật.

Từ dạo ấy danh tiếng của Bảy Lưu Linh ở xứ tràm đã nổi nay còn nổi hơn. Người ta đặt hẳn một câu chuyện đầy huyền thoại về lão: Rượu đối với con ma men này đã thành máu thịt thành hơi thở nên đi lấy ong mật không cần đem theo lửa khói. Chỉ cần kê miệng vào tổ ong thổi phù vài hơi là cả đàn ong đều xỉn rượu hết thấy đường sá chi mà đánh nữa. Có người thì bảo rằng: tầm bậy làm gì có chuyện ong xỉn rượu! Chẳng qua là lão già này có phương thuốc bí truyền để lấy ong mà khỏi bị đánh. Bằng chứng là trước lúc vào rừng lấy ong lần nào lão cũng nhai nhồm nhoàm cả nắm lá cây gì đó mà chưa ai từng thấy bao giờ. Đích thị đó là loại lá thuốc để lấy ong.

 

Bây giờ thì Bảy Lưu Linh chẳng còn vào rừng để lấy ong nữa vì kể từ khi quán bánh xèo kinh Một Rưỡi khai trương lão đã có mối cung cấp rượu. Với biệt tài đi rừng của mình chỉ cần vài chục phút đồng hồ là lão đã lôi từ ngăn tủ của mình ra hằng hà sa số các loại rau cỏ dùng để ăn kèm với bánh xèo. Cứ mỗi lần đổi rau là lão lại được đầy một chai ba xị; cứ mỗi lần đem cái chai trống rỗng ấy đến quán là lão lại hù thằng Tuấn “đèo” một trận xanh mặt. Và chỉ có thằng Tuấn “đèo” mới sợ Bảy Lưu Linh chứ tụi con nít trong xóm coi lão như một gã hề chọc cho đỡ buồn không hơn. Lý do để thằng Tuấn sợ Bảy Lưu Linh thì chỉ có lão với nó biết: Đó là con ma men này đã bắt trúng tim đen của thằng nhỏ! 

Có lần Bảy Lưu Linh đem rau tới quán để đổi rượu thì bắt gặp thằng Tuấn “đèo” dòm không nháy mắt vô cổ áo con Lụa – con của chủ quán đang dọn dẹp chén đũa trên bàn. Chết cha mày rồi con ơi! Đợi con nhỏ quay vô nhà Bảy Lưu Linh mới túm lấy cổ áo thằng Tuấn “đèo”: Ê dòm vú lén hả mậy? Đâu…đâu có đâu! Tui dòm hồi nào ông già? Thằng Tuấn đèo mặt mày sượng ngắt. Khỏi chối tao thấy hết tao mà méc lại là con mẹ nó xé xác mày ra sau đó báo lại với kiểm lâm…Báo kiểm lâm làm gì? Mày đúng là cái thằng điếc nhứt xứ kiểm lâm vừa có thông báo thằng nào dám dòm vú con gái bất hợp pháp là đuổi khỏi rừng tràm. Nghe rõ chưa con?!

Bị đuổi khỏi rừng là tàn mạng bởi Tuấn “đèo” không còn biết đi đâu nữa. Mười bảy năm trước nó đến nơi này trong chiếc giỏ đệm treo trên nhánh tràm dưới chân chòi canh lửa may mà chưa bị kiến vàng cắn cho tới chết nhưng hình như ở trong giỏ lâu quá nên không lớn nổi nên mới còi cọc chết danh “đèo”. Bây giờ mà bị đuổi ra khỏi nơi này chỉ vì cái tội dòm vú con gái bất hợp pháp thì đúng là lãng nhách. Thế nên nó đành ngậm bồ hòn với Bảy Lưu Linh cho lão già này lên mặt với nó cũng chẳng mất mát gì miễn là nó còn được ở lại xứ này mỗi sáng lại được gặp mặt con Lụa ở quán bánh xèo cầu kinh Một Rưỡi. Để được nghe con nhỏ này hỏi nó dẫu chỉ một câu cũ mèm duy nhứt trong ngày: Ê “đèo” mấy cái?

 

Một ngày nào đó của ngày nảy ngày nay giữa mùa khô có người trở về từ phía bên kia rừng tràm.

Nông phu về đòi lại những thứ thuộc về anh ta. Mấy công đất ruộng vẫn còn lởm chởm gốc tràm. Chiếc tivi màu mười bốn in mua hồi năm trúng lúa. Những thứ chia đôi được đều chia đôi không từ cả nồi niêu xoong chảo chén đũa…

Ngoại trừ người đàn bà đã quên mất tuổi của mình. Chị không còn là nông phụ nữa mà đã trở thành chủ quán bánh xèo ở kinh Một Rưỡi. Chủ quán bánh xèo thì chưa bao giờ là thứ thuộc về anh ta.

Nông phu vẫn còn nhớ mình có một đứa con gái anh ta đưa mắt nhìn nó. Con Lụa cụp mắt xuống chảo bánh xèo bốc khói khét nghẹt. Cha tui chết rồi!

Nông phu thấy mình đã trở thành kẻ cướp kể từ giờ phút này.

 

Chủ quán bánh xèo đi đâu? Đi đâu? Dân rừng tràm nháo nhác hỏi nhau khi sau cái ngày nào đó của ngày nảy ngày nay nơi cầu kinh Một Rưỡi chỉ còn trơ lại cái xác nhà. Không còn bánh xèo. Không còn rau rừng. Không còn chỗ cho Bảy Lưu Linh đổi rau lấy ba xị rượu. Không còn con Lụa để thằng Tuấn “đèo” được nghe câu cũ mèm duy nhứt: Ê “đèo” mấy cái?

Không còn tất cả mà mới đây ở cầu kinh Một Rưỡi đã từng có.

Bảy Lưu Linh lại trở về như trước kia luồn lách như ma trong rừng tràm và chơi trò trốn tìm với kiểm lâm.

Tuấn “đèo” chiều nào cũng đến chỗ cái xác nhà ngồi y nguyên ngay chỗ cũ miệng lảm nhảm: Đổ cho tui ba cái bánh xèo Lụa ơi! Kể từ đó chẳng còn ai nhớ cái tên Tuấn của nó nữa dân rừng tràm đều gọi nó là thằng “Đèo khùng” đang thất tình con của chủ quán bánh xèo.

“Đèo khùng” nơi cái xác nhà hôm nào cũng mời khách đi đường tạt vô “ăn bánh xèo” và nghe nó kể chuyện ngày nảy ngày nay: về cái quán bánh xèo cầu kinh Một Rưỡi cùng mối tình không bao giờ lớn của mình với con Lụa. Con nhỏ đã nhiều lần “tỏ tình” với nó chỉ bằng câu: Ê “đèo” mấy cái?./.

( Tác giả tự chọn từ tập truyện ngắn NHỮNG ĐÁM MÂY BỐC CHÁY )


alt

More...

Ru mùa - thơ HUỲNH THÚY KIỀU

By Huỳnh Thúy Kiều

 

alt 

hoa súng nở lòe mặt ruộng

hững hờ chi anh còn may áo mỏng cuối giêng?

tháng ba nắng lùa em bừng lên ngực

gọi ngày giông bão đan xen

H.T.K

alt

 

More...

Chầm chậm tháng ba - thơ HUỲNH THÚY KIỀU

By Huỳnh Thúy Kiều

alt

 

 

vén ngày nắng để những yêu thương bồng bềnh theo sắc gió

trôi đi

trôi đi

tháng ba

bình minh xanh nằm vắt ngang chùm lá gõ khúc giao mùa

H.T.K

 

alt 

More...

Thơ thế nào là hay? HUỲNH THÚY KIỀU

By Huỳnh Thúy Kiều

alt

 

Thơ thế nào là hay?

HUỲNH THÚY KIỀU 


alt

 

       Câu hỏi này đã đang và sẽ cứ tiếp tục treo lơ lửng trên đầu bất kỳ ai từ những nhà thơ nổi tiếng đến người vừa cầm bút. Đã có hàng ngàn người trả lời trả lời ngay khi loài người có thơ thơ song hành cùng với loài người. Tuy vậy nếu quy ra thành mẫu số chung thì lại rất khó có một định nghĩa làm thỏa mãn tất cả mọi người.

       Nhà thơ Lưu Trọng Lư cho rằng: "Một câu thơ hay là một câu thơ có sức gợi”. Một câu thơ có sức gợi có thể tạo ra muôn ngàn cách nghĩ dường như rất khó đọc hết một câu thơ một bài thơ hay. Một trong những bài thơ theo tôi hay nhất trong thơ Việt Nam hiện đại là bài Tiếng Thu. Đây cũng là bài thơ rất giàu sức gợi gợi từng câu từng chữ. Hồn vía nhà thơ đã hòa nhập vào từng con chữ biến ảo mà thành ảnh thành thơ. Từng câu thơ cho người đọc nghe được âm thanh quạnh hiu và có nhiều liên tưởng. Sự liên tưởng này tùy theo tình cảm của từng người và cả từng lúc từng nơi từng tâm trạng tạo nên sự phong phú lạ thường.

       Nhưng tôi đã đọc có câu thơ bài thơ cũng chẳng phải gợi mà lại  nhập tự nhiên vào tâm thức người đọc. Đó là trường hợp Màu tím hoa sim của nhà thơ Hữu Loan. Ông cứ tự sự như kể chuyện có sao kể vậy không hoa lá thêm thắt gì những hình ảnh và ngôn ngữ rất đỗi quen thuộc. Khi bài thơ kết thúc ta mới thấy toàn bộ nỗi đau của nhà thơ trước sự mất mát của người vợ trẻ. Ý thơ được giấu tận cùng và bung ra nhưng không bi lụy. Bài thơ là tấm gương mà bất kỳ ai soi vào cũng thấy mình trong đó.

       Nếu gợi là đúng thì cũng phải chấp nhận chân thành cũng không sai. Nhưng bí ẩn của thơ cũng không chỉ có thế. Nhà thơ Tố Hữu cho rằng: “Thơ là chuyện đồng điệu”. Khi khác ông lại nói: "Thơ chỉ bật ra trong tim ta khi cuộc sống đã tràn đầy”. RaxunGamzatop rất có lý khi ông nói: “Anh có thể viết chừng nào cảm thấy không thể không viết”. Nhà thơ Xuân Diệu cho rằng:“Thơ là tiếng gọi đàn.” Có lúc ông lại nghĩ: “Thơ là bà chúa của nghệ thuật”. Thơ hay hoàn hảo đến mức không có bất kỳ vết gợn nào. Sự hoàn hảo bắt đầu từ những con người có tâm hồn đặc biệt. Có phải vì thế mà nhà thơ Chế Lan Viên viết: “Thi sĩ không phải là Người nó là Người Mơ Người Say Người Điên. Nó là Tiên là Ma là Quỷ...”

       Chỉ nghe ý kiến của những nhà thơ có vị trí đặc biệt trong nền thơ hiện đại Việt Nam cũng thấy muốn hiểu thế nào là thơ hay thật khó. Tôi rất thấm với ý kiến sâu sắc của nhà thơ Thạch Quỳ khi ông cho rằng: Thơ cao hơn tất cả mọi nhận thức về thơ.

       Thơ là gì thơ là ai nó ở trong hay ngoài nhà thơ? Nếu không có những vui buồn trong cuộc sống với nhà thơ nếu trong trái tim nhà thơ không còn sự rung động liệu nhà thơ có thơ không? Sau tất cả những vui buồn đã gặp đã ăn sâu vào tiềm thức của nhà thơ nhà thơ đặt bút viết bài thơ tự nhiên chảy một mạch liền. Khi nhà thơ viết xong bài thơ tôi có cảm giác nhà thơ như người mẹ trẻ đi ra từ nhà hộ sinh trên tay bế đứa con vừa mới chào đời. Lòng bỗng nhẹ nhõm và tràn ngập niềm vui. Thơ đòi hỏi sự trải nghiệm bao nhiêu thì thơ lại đòi hỏi phải tươi non bấy nhiêu. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ thơ đã làm tròn bổn phận vinh quang đã tạo ra những bài thơ hay những thế hệ nhà thơ xứng đáng với lịch sử dân tộc. Những chi tiết thơ từ thực tiễn kháng chiến đã vào thơ đẩy thơ Việt Nam lên một tầm cao mới. Vì thực tiễn phù hợp với lịch sử mà thơ Việt Nam âm vang một niềm kiêu hãnh hướng về phía trước với niềm tin vô hạn. Tất cả sức mạnh của dân tộc Việt Nam đã được huy động tạo cho thơ một thời đại không phải bao giờ cũng có. Có lẽ vì thế mà các nhà thơ thời thơ mới như Xuân Diệu Huy Cận Chế Lan Viên… đã chuyển mình kịp thời cùng với các nhà thơ lớn lên cùng kháng chiến: Tố Hữu Nguyễn Khoa Điềm Hồng Nguyên Nguyễn Đình Thi Chính Hữu Trần Hữu Thung Lê Anh Xuân Phạm Tiến Duật Bằng Việt Hữu Thỉnh Nguyễn Duy Thạch Quỳ Xuân Quỳnh Nguyễn Trọng Tạo… và rất nhiều nhà thơ khác tạo nên đội ngũ các nhà thơ cách mạng hùng hậu.

       Nếu thơ mới (1930-1945) đã vượt qua quá khứ trì trệ và  góp phần đào tạo ra thế hệ các nhà thơ kháng chiến thì chính thơ kháng chiến đã làm mẫu mực cho những người cầm bút thế hệ sau. Thơ kháng chiến không tạo ra thêm những thể loại mới nhưng nó có công rất lớn trong việc đưa ngôn ngữ mới vào thơ. Ngôn ngữ ấy là của nhân dân lao động những ngưới lính cầm súng góp phần tạo ra. Các nhà thơ đã thuần dưỡng và sử dụng một cách rất hồn nhiên. Thơ cổ vũ nhân dân và đến lượt nhân dân đón đọc và cổ vũ làm cho thơ Việt Nam không ngừng phát triển và tươi mới. Sự cộng hưởng giữa thơ với người đọc tạo nên một bức tranh sinh động và huyền ảo góp phần làm phong phú hơn vẻ đẹp tinh thần của con người.

       Thơ là cảm xúc dâng tràn nhưng cảm xúc nào cũng chứa đựng nội dung. Nội dung hay hình thức đều bắt đầu từ cảm xúc mà hiện hình lên. Những hình thức mà các nhà nghiên cứu phát hiện không thể bao trùm hết thơ. Thơ bao giờ cũng muốn bứt tung ra ngoài các hình thức đã được khái quát. Thơ là riêng biệt. Thơ trừu tượng khái quát bằng hình tượng nên không thể lấy sự cảm nhận của người đọc này áp đặt thành sự rung động cho người đọc khác. Thơ hay còn cần thiết chờ đợi sự kiểm nghiệm qua thời gian và qua nhiều thế hệ tiếp nối khác nữa. Tất cả những nhà thơ lúc nào cũng hồi hộp cùng những bài thơ của mình đi trên cầu dẫn đến phía cuối đường nơi có cánh cửa cuối cùng. Không phải bài thơ nào cũng qua được và nếu qua được cánh cửa vô hình ấy thơ sẽ tồn tại và đó chắc chắn là thơ hay. Có người cho rằng thơ có thể một thời và thơ hay mới của nhiều thời! Nói thế nào là thơ hay khi trả lời tôi sợ chủ quan trước “ban giám khảo” quá khó tính đó là thời gian và công chúng.

       Lớp trẻ chúng tôi thật may mắn khi lớn lên thơ Việt Nam đã có bề dày lịch sử đầy đặn đã tạo nên một vườn hoa tỏa nhiều hương sắc. Lịch sử văn học nói chung và riêng thơ rất công bằng khi đòi hỏi thơ phải vượt lên khẳng định mình thì chính cuộc sống cũng tạo ra tiền đề để các nhà thơ tài năng có cơ hội bứt phá. Các nhà thơ trong hai cuộc kháng chiến  thực tiễn thời ấy cũng tạo ra các điều kiện để họ vượt lên khẳng định mình cao hơn xa hơn. Đó là đất nước có chủ quyền và tiến hành hai cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc. Và như trên tôi đã nói những nhà thơ kháng chiến đã thành công kế tục phát triển xứng đáng với nền thơ Việt Nam hiện đại mà thơ mới đã mở đường.

       Mang trong mình niềm tin đã được kiểm chứng đó tôi nghĩ về thơ của các nhà thơ trẻ hiện nay. Nếu các nhà thơ kháng chiến đắm mình trong các cuộc chiến đấu với mục tiêu giành độc lập dân tộc thì các nhà thơ trẻ hiện nay lại đắm mình vào cuộc chiến khác cuộc chiến thoát nghèo vươn lên giàu có trong nền kinh tế thị trường. Trong giai đoạn đất nước mò mẫm tìm đường đi đời sống khó khăn thơ cũng mất mùa. Nhưng sau 1986 thơ Việt Nam đã có khởi sắc và vượt lên phải kể từ các nhà thơ Nguyễn Quang Thiều Tuyết Nga Mai văn Phấn Dương Thuấn Phạm Thị Ngọc Liên Trương Nam Hương… Trong thơ họ tính khái quát khá cao. Bước qua lối mòn của thơ vần điệu mà vươn lên nhạc điệu. Hình thức thơ vượt qua các thể loại đã mòn tạo ra hình thức thể hiện mới hơn. Ngôn ngữ dày đa vỉa tầng đọc phải suy ngẫm. Cái hay của thơ thời kinh tế thị trường thường nằm sâu hơn. Có người cho thơ dễ nhớ dễ thuộc như một đặc điểm vốn có của thơ. Tôi nghĩ không hẳn như vậy. Ngày nay càng thấy rõ vì cuộc sống không chỉ một mục tiêu mà nhiều mục tiêu. Thực tiễn mở ra rộng lớn tình cảm con người phức tạp hơn nhiều lần. Thơ phải khái quát các tình cảm trừu tượng bằng các hình tượng vừa thực vừa mơ phải thuần dưỡng ngôn ngữ mới còn nhiều xa lạ. Thơ các nhà thơ trẻ không thể dễ thuộc như xưa.

       Nói đến thơ hay là phải nói tới người đọc hay. Thời thơ mới được đón nhận từ những người trẻ tuổi trong số đó đa phần là học sinh sinh viên thanh niên. Thơ kháng chiến dường như toàn dân đọc nhưng trước hết vẫn là những người trẻ tuổi đang hướng về cuộc chiến đấu. Thơ mới và thơ kháng chiến ăn sâu vào tâm trí người đọc đến mức nhiều bạn đọc an nhiên thơ là như thế! Người đọc thơ vài chục năm nay bị ảnh hưởng quá khứ quá nhiều nên ít đọc thơ các nhà thơ trẻ. Ngay một số ít nhà thơ thành danh cũng chưa thoát ra khỏi thơ truyền thống nên đọc thơ mới theo mắt cũ. Khi thế giới các nước nương tựa vào nhau hội nhập thì thẩm mỹ thơ đang có nhiều thay đổi. Hội thơ rằm Nguyên tiêu hàng năm thả thơ lên trời dư luận  năm nào cũng còn nhiều ý kiến. Điều này cho thấy thơ hay còn nhiều quan niệm khác nhau. Tuy vậy xu hướng đang dần tiến bộ. Tôi tin thơ trẻ sẽ đến lúc chiếm lĩnh thi đàn vì nó vừa biết kết hợp hài hòa những ưu điểm vượt trội của các thế hệ cầm bút đi trước vừa bứt phá mạnh mẽ táo bạo nên nhanh chóng đáp ứng được nhu cầu đọc của lớp trẻ. Tuy nhiên trong thơ trẻ hiện nay có khá nhiều tác giả viết quá bế tắc trong cách nhìn. Họ chưa nhận thức được con người cụ thể có thể bế tắc nhưng cuộc sống thì không. Bản chất cuộc sống luôn tự tìm được đường đi những cái nhìn bế tắc không phù hợp với cuộc sống. Cuộc sống phát triển rất nhanh cái mới bị cũ đi nhanh chóng. Con người đang tập trung cho cái ăn cái mặc chừng mực nào đó nhiều người chưa quan tâm nhiều đến thơ.

      Thơ trẻ có hay không? So với những người trẻ tuổi làm thơ hiện nay thì những nhà thơ trẻ có thơ hay chưa nhiều. Nhưng nếu đọc kỹ sẽ thấy thơ trẻ có nhiều phát hiện mới lạ táo bạo trong hình ảnh và hình thức thể hiện. Thơ trẻ phần lớn vượt qua thơ vần điệu để đến với những câu thơ có nhạc. Ngôn ngữ thơ mới được thuần dưỡng cần có thời gian chiêm nghiệm. Đã hiện hình lên những khuôn mặt mới từ nhiều vùng trong cả nước bước đầu được công chúng quan tâm: Đinh Thị Như Thúy Lê Vĩnh Tài Phan Huyền Thư Trần Tuấn Nguyễn Phan Quế Mai Trịnh Sơn Nguyễn Đăng Khương Trương Trọng Nghĩa…

       Thơ hay đặc biệt là thơ của các tác giả trẻ đã và đang dần phát lộ rồi cũng sẽ được kiểm chứng qua thời gian.


alt

 

Nguồn: Văn nghệ Trẻ số 12 chủ nhật ngày 20-3-2011


  

More...

CHÙM THƠ NGUYỄN NGỌC TÂN ( Hội VHNT Cà Mau )

By Huỳnh Thúy Kiều

 

 CHÚT TÌNH ĐẤT NƯỚC RIÊNG TA
                                   Tặng anh Huỳnh Văn Quốc!
                

                 Đất nước mình thắt lưng hình con cá ngựa
                 Bơi đứng trong đại dương ngút ngàn
                 Để cho nắng túa thêm màu xanh biển
                 Và gió thì thầm khoác tấm áo mênh mang
 
                 Xưa ai vãi tung cái nhớ thành quần đảo
                 Nay ta lấy cái nhớ em làm đường chân trời
                 Phải vậy không mà sự dịu dàng của biển
                 Uốn éo thành duyên dáng Hạ Long?
                 

                 Ta đâu tiếc nên đôi khi đành lỗi hẹn
                 Với Nha Trang hồi hộp những hòn chồng
                 Thử một phút trôi về miền Đất Mũi
                 Vẫn đục ngầu thương nhớ với chờ mong…
 
                 Cha ông xưa vót chông từ tre trúc
                 Nay ta vót chông từ những chuyến đợi tàu
                 Cha ông xưa hát trên dải Trường Sơn hùng vĩ
                 Nay ta hát yên bình giữa rừng đước Cà Mau!
                                 
                 Hãy ngăn gió không cho làm sóng dữ!
                 Hãy ngăn mây không cho hóa bão bùng!
                 Để cho tiếng thở em thơ mềm mại
                 Để người ta yêu hóa những mẹ hiền…
 
                 Ta vẫn thích trở về dòng Sông Mã
                 Hò hét tung tăng như cỡi gió trời
                 Ta vẫn thích trở về dòng sông Đáy
                 Lửng lơ con thuyền nằm chờ gọi - đò ơi!
 
       

                  Ta vẫn khoái đong đưa trên Hải Vân ngọn
                 Để ngắm đất nước trong im lặng tận cùng
                 Rồi theo gió trôi về dòng Hương lặng
                 Trong hoang phế hoàng thành ta lại nhớ Quang Trung!
                                                  

MÙA KHÔ DA DIẾT
                                   
                                               
Ngột ngạt những chiều mùa khô tươm nắng

Gió chả ham quẫy đuôi trên mặt sóng

Nước chưa kịp trong con nước đồng bằng

Gió đang về hay lang bạt nơi đâu?
Cho hàng cây đứng im ngơ ngác gọi

Nhớ nhau chi ngầy ngật váng đầu!

Năm anh về mùa cũng khô mênh mông
Căn phòng em nắng vàng say mê thổi
 Nụ anh cười mênh mang như sông…
 Em gói mùa khô trong vẹn nguyên chữ đợi
 Bao mùa khô ra đi mấy mùa khô trở lại
 Chỉ mình em khắc khoải giống như mùa!..             
                            
  Anh ạ! làm sao gỡ bỏ được chữ mong
  Hoa nắng bủa vây mùa khô ngột ngạt
 Hơi nóng chiều nay ai thả đến ngộp lòng?
 Anh không về mùa lại vẫn khô cong…
 
Căn phòng em chật nặng mùi gió biển
 Thổi qua lòng nhà rin rít rỗng không…
 

Cà Mau mùa khô 27-3-2009


VỚI TẢN ĐÀ

Có về sổ ước mơ vuông
Gói thơm rau sắng chùa Hương nắng chiều
Mới hay cụ Tản* sống bèo
Chiều ba mươi tết nắng nghèo liếm tay!



* Cụ Tản Đà - nhà thơ lừng danh một thời.
 

 



More...

Ngày thơ Việt Nam lần thứ IX và những dư âm - HUỲNH THÚY KIỀU

By Huỳnh Thúy Kiều

 

NGÀY THƠ VIỆT NAM LẦN THỨ IX VÀ NHỮNG DƯ ÂM

HUỲNH THÚY KIỀU

 

HTK ở sân thơ Hiện đại ngoài Văn Miếu Quốc tử Giám ngày thơ năm nay

 

            Cũng như Ngày thơ Việt Nam lần thứ 7 năm 2009 Ngày thơ lần thứ 9 năm nay Hội VHNT Bạc Liêu lại tiếp tục đăng cai tổ chức cùng liên kết với hai Hội VHNT Cà Mau và Sóc Trăng. Đêm thơ chính thức diễn ra vào lúc 20 giờ tối ngày 16.02 ( ngày 14 tháng giêng âm lịch ) nhưng trước đó sáng và chiều ngày 16.02 đã lần lượt diễn ra hai cuộc thi ảnh đề thơ và viết thư pháp ( cả chữ Việt và chữ Hán ).

          Sau đây là một số hình ảnh của HTK “chộp” và HTK qua ống kính bè bạn trong ngày thơ Việt Nam lần thứ 9 tại Bạc Liêu.

          Hơi thở mùa xuân vẫn còn bên song cửa HTK kính chúc quý bạn đọc bạn viết và thân hữu năm mới sức khỏe hạnh phúc và thành đạt.

          Trân trọng cảm ơn!

 

* Ghi thêm điểm dương ( + ) cho Hội VHNT Cà Mau: Tất cả 45 bức ảnh đề thơ ( cả ảnh đạt giải và ảnh trưng bày ) của ba Hội VHNT Cà Mau Sóc Trăng và Bạc Liêu ( mỗi Hội chọn 15 ảnh ) đã được Hội VHNT Cà Mau mang từ Bạc Liêu về. 9 giờ sáng ngày 20.02 tại Chuông Gió càfê ( quán càfê rất thanh lịch khá nổi tiếng ở thành phố Cà Mau ) đã diễn ra lễ khai mạc triển lãm ảnh đề thơ. Đây cũng là điểm nhấn của Chuông Gió càfê ở nửa cuối tháng 2 này. Theo nghệ sĩ Nguyễn Thanh Sơn chủ cửa hiệu càfê Chuông Gió dự kiến cuộc triển lãm ảnh đề thơ sẽ bế mạc vào lúc 16 giờ ngày 27.02. Hy vọng tại lễ bế mạc Hội VHNT Cà Mau sẽ rất vinh dự và nhiệt tình đón tiếp đại diện hai Hội VHNT tỉnh bạn là Bạc Liêu và Sóc Trăng. Hình ảnh trưng bày tại Chuông Gió càfê cũng sẽ được HTK post lên trong những entry thích hợp.

Một lần nữa HTK trân trọng cảm ơn sự ủng hộ của quý bạn đọc bạn viết và thân hữu.

 

 

 Ảnh 1: HTK qua ống kính PV Đài PTTH Sóc Trăng

 

 

 Ảnh 2: HTK đang trả lời PV của PV Đài PTTH Sóc Trăng

 

 Ảnh 3: HTK với Ngọc Trân - PV báo Bạc Liêu

 

  

 Ảnh 4: HTK với nhà báo Nguyễn Văn Thanh - Tổng đạo diễn đêm thơ lần thứ 9

 

 

 

   

     Ảnh 5: HTK với NSNA Trần Thanh Liêm - Tác giả vừa đạt giải A của UB TQLHCHVHNT Việt Nam năm 2010 với tác phẩm Đầm tôm mùa thu ( Trần Thanh Liêm nói: Nếu không cầm máy người ta sẽ không biết mình là NSNA hehehe )

 

    

   

   Ảnh 6: Chuẩn bị thả thơ

 

     

   Ảnh 7: PV các báo đài PTTH đang ghi hình buổi sáng ngày 16.02 với cuộc thi ảnh đề thơ

 

    

    Ảnh 8: “ Ông đồ” Huỳnh Thăng - Cà Mau ( bút danh ) đang chuẩn bị cho chữ

 

    

    Ảnh 9: Nghệ sĩ Việt Tiên mở đầu chương trình của đơn vị Cà Mau bằng tác phẩm Hạnh ngộ đầu năm của Hồ Thanh Ngân

 

   

    Ảnh 10: Nghệ sĩ Khởi Huỳnh ( Cà Mau ) đang “ phiêu”  cùng thơ Nguyễn Ngọc Tân với hình  ảnh mở  đầu bài thơ thật   ấn    tượng “ Đất nước mình thắt lưng hình con cá ngựa”

 

   

   Ảnh 11: Nhạc sĩ Nguyễn Ngọc Để ( Cà Mau ) đang trình bày chính tác phẩm của mình phổ nhạc

 

   

   

Ảnh 12: Khi chương trình kết thúc các nghệ sĩ của cả 3 Hội VHNT Cà Mau Sóc Trăng Bạc Liêu bước ra chào khán giả khép lại Ngày thơ Việt Nam lần thứ 9 do Hội VHNT Bạc Liêu đăng cai tổ chức. So với lần phối hợp 2 năm trước Ngày thơ Việt Nam lần này được đánh giá “ hoành tráng hơn chất lượng hơn” .

          Hẹn gặp lại Ngày thơ Việt Nam lần thứ 10 do Hội VHNT Cà Mau đăng cai tổ chức sẽ diễn ra tại TP Cà Mau dự kiến đúng vào dịp Nguyên Tiêu 2012.

          Trân trọng cảm ơn!

*Ảnh được thực hiện bởi Huỳnh Thúy Kiều và NSNA Nguyễn Minh

 

 

More...

Chúc mừng năm mới! HUỲNH THÚY KIỀU

By Huỳnh Thúy Kiều

Chúc quý bạn đọc bạn viết một năm mới an lành hạnh phúc!

 

 

More...

Còn thương rau đắng - tạp văn Huỳnh Thúy Kiều

By Huỳnh Thúy Kiều

 

 

Còn thương rau đắng…

Tạp văn HUỲNH THÚY KIỀU

 

 

         

          Hồi tôi còn học trường làng trước khi chuẩn bị nấu cơm mẹ thường sai anh tôi đi thăm lưới thăm câu để xem có cá không; còn tôi thì hái rau nấu canh hoặc để ăn sống. Nông thôn ngày xưa mà có gì dùng nấy không bán chác như bây giờ. Còn chuyện ăn thịt heo thì… đến Tết mới có họa hoằn lắm là đám tiệc mới được dịp thưởng thức. Đơn điệu như thế đó nhưng thăm thẳm trong lòng tôi vẫn dồi dào tình cảm và chan chứa ân sâu. Chứ không phải “ kinh tế” như hôm nay đâu có người đem mấy lọn rau lang rau cần nước rau húng dăm con cá thậm chí bắt cá cả lòng ròng ( cá lóc con khi vừa mới sinh ) đem ra chợ bán. Đúng là thời buổi kinh tế thị trường có khác.

          Nói như thế để thấy cơ chế của thời kỳ đổi mới đã tác động mạnh mẽ như thế nào đến đời sống của bà con quê mình. Vừa mừng vừa lo. Chỉ hy vọng là dù có thay đổi đến đâu thì cũng nên cố gắng gìn giữ nếp văn hóa xưa vậy.

          Quay lại cái chuyện hái rau. Thời điểm không khí se lạnh là lúc rau đắng đất bắt đầu xuất hiện. Đầu tiên là ở mép đất non quanh các ao hồ gần nhà. Đến khi thu hoạch lúa xong là chúng đã mọc dày ở các rãnh thoát nước khai thông cho dòng chảy trên mặt ruộng. Nhớ “ Còn thương rau đắng mọc sau hè” của nhạc sĩ Bắc Sơn hết biết!

          Rau đắng có hai loại. Rau đắng biển và rau đắng đất. Loại mọc quanh năm suốt tháng dưới ao xem xép nước hay trên rìa mương lầy lội bùn đất là rau đắng biển. Cũng giống như các loại rau đồng khác rau đắng biển ở chợ vẫn có bán hàng ngày và không đắt giá dễ ăn tính lành ta có thể luộc xào hay nấu canh đều được. Nhưng cũng không nên ăn nhiều vì dễ đau bụng lắm đó! Còn rau đắng đất chỉ mọc vào mùa khô và hay ăn kèm với món cá lóc nấu cháo tống. Ngon tuyệt! Đã nói như thế này rồi thì cũng phải dông dài một chút cho bạn tận tường cái mùi cháo đặc trưng Nam bộ. Tháng này các ao đìa đã có cá lóc bự rồi. Nếu chúng ta ở thành thị thì phải mua tất cả cá cả rau.

          Sau khi cá lóc được đánh vảy cạo nhớt sạch sẽ thì khứa đầu cá để riêng phần còn lại cắt nhỏ ra ướp gia vị gồm tiêu đường bột ngọt nước mắm ngon gốc hành băm nhuyễn và một muỗng mỡ nước nhớ dùng đũa trộn đều lên cho thật thấm nhé. Vo một ít gạo nấu cháo khi hạt gạo nở ra ta cho đầu cá vào tiếp tục nấu cho đến khi đầu cá chín xắt vài lát gừng thành sợi bỏ vào để ăn cho ấm bụng.  Tùy khẩu vị của từng người mà nêm nếm cho vừa ăn là được. Bây giờ cái bếp ga mini đã trở nên phổ biến rồi. Thử tưởng tượng xem năm bảy người bạn quây quần bên nhau để thưởng thức món cháo tống ăn kèm với rau đắng đất ăn đến đâu bỏ cá đã cắt nhỏ lên nồi cháo đang sôi sùng sục đến đó chú ý: cá vừa chín tới là ngon nhất ( bỏ một ít rau đắng đất vào chén trước khi múc cháo lên ).Húp cháo nhễ nhại mồ hôi lâu lâu đánh “chóc” ly rượu đế quê hương rồi “khà” lên một tiếng ngon hết biết! Riêng bộ lòng cá thì người có uy tín nhất trong bữa rượu mới được dùng nếu không có đổi 5 ly rượu đế chưa chắc đã được sở hữu. Dân dã là thế!

          Một chiều cuối tuần nào đó trong tiết trời se lạnh rủ bạn bè nâng cốc bên nồi cháo tống ăn kèm rau đắng đất để mà thương mà nhớ. Ăn nhưng vẫn còn nghe văng vẳng bên tai những câu hát chạnh lòng:

          “ Nắng hạ đi/ mây trôi lang thang cho hạ buồn/ để một mình ngồi/ chợt thèm/ rau đắng nấu canh…”

          H.T.K

 

More...

50 Năm Tạp chí LÚA VÀNG - Đầy ắp kỷ niệm - HUỲNH THÚY KIỀU

By Huỳnh Thúy Kiều

 

50 năm tạp chí Lúa Vàng - đầy ắp kỷ niệm

Bài và ảnh: Huỳnh Thúy Kiều

 

Chiều qua ( 30.12 ) lúc 14 giờ tại hội trường Tỉnh ủy Cà Mau Hội VHNT tỉnh Cà Mau đã kết hợp với Hội VHNT tỉnh Bạc Liêu long trọng tổ chức lễ kỷ niệm 50 tạp chí Lúa Vàng ra số đầu tiên 1960 - 2010 tiền thân của tạp chí Văn nghệ Cà Mau và Văn nghệ Bạc Liêu hiện nay.

Trải qua 50 năm trưởng thành nhiều cây bút tài năng xuất thân từ tạp chí Lúa Vàng đã tạo được chỗ đứng trong lòng bạn đọc bằng chính những trang viết đầy xúc cảm của mình. Năm 1960 nhiều tác giả đã tay cầm súng tay cầm bút quyết đấu tranh trên cả hai mặt trận vừa đối diện với kẻ thù trên chính mảnh đất quê hương mình vừa cày chữ để cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân và dân tỉnh nhà trong phong trào Đồng Khởi…

Tại buổi lễ kỷ niệm 50 năm tạp chí Lúa Vàng nhiều ký ức và hình ảnh đẹp như những thước phim quay ngược thời gian để mọi người cùng hoài niệm… Từ tạp chí Lúa Vàng qua nhiều lần thay tên đổi họ và chia tách tỉnh như Văn nghệ Minh Hải tạp chí Bán đảo Cà Mau ( của Hội VHNT tỉnh Cà Mau ) tạp chí Dạ cổ Hoài Lang ( của Hội VHNT Bạc Liêu )… và nhiều cây bút tên tuổi qua từng thời kỳ cũng được khơi gợi lại trong anh em văn nghệ sĩ từ chiếc nôi “ Lúa Vàng” đầy ắp kỷ niệm như: Nguyễn Hải Tùng Nguyễn Kiên Định Lê Chí Nguyễn Bá NSNA Võ An Khánh họa sĩ Văn Nhiệm Nguyễn Thanh Nguyễn Minh Nối… rồi đến Lê Đình Trường Duy Hoàng Phan Trung Nghĩa Hoàng Anh Việt… Giờ đây lực lượng viết trẻ được bổ sung và kế thừa cho văn nghệ Cà Mau như Nguyễn Ngọc Tư Lê Minh Nhựt Huỳnh Thúy Kiều Huỳnh Văn Út. Ở văn nghệ Bạc Liêu cũng vậy Huỳnh Thị Ngọc Yến Tú Nhã Lâm Tẻn Cuôi… cũng đã góp phần tạo ra lực lượng kế thừa hùng hậu cho văn nghệ Cà Mau - Bạc Liêu hiện tại.

Sau  đây     những hình  ảnh đã  được  Huỳnh Thúy Kiều “ chộp” tại buổi lễ kỷ niệm 50 năm tạp chí Lúa Vàng ra số đầu tiên 1960 - 2010. Mời quý bạn đọc bạn viết và thân hữu xem và góp ý.

Năm dịp năm mới Huỳnh Thúy Kiều kính chúc quý bạn bè và thân hữu lời chúc ân cần nhất tốt đẹp nhất từ xa xôi Mũi Cà Mau.

Trân trọng cảm ơn!

 

 Ảnh 1

                                               

                                                            Ảnh 2

 

 

 Ảnh 3

 

                                                    

                                                     Ảnh 4

     

                                                

                                                 Ảnh 5

 

Ảnh 1 2 3 4 5: Tạp chí Lúa Vàng ngày xưa và Tạp chí Văn nghệ Cà Mau Tạp chí Văn nghệ Bạc Liêu hiện nay

 

 

   

    Ảnh 6

 

                                                              

                                                              Ảnh 7

 

                                                              

                                                              Ảnh 8

 

  Ảnh 6 7 8: Không gian trưng bày Tạp chí Văn nghệ Cà Mau và Văn nghệ Bạc Liêu tại buổi lễ kỷ niệm 50 năm Tạp chí Lúa Vàng

 

                                                              

                                                               Ảnh 9: HTK “chụp cự ly gần” không gian buổi lễ

 

 

  

  

Ảnh 10: Đồng chí Lê Huỳnh Kỳ ( giữa ) Tỉnh ủy viên Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Cà Mau trao bằng khen của Ủy ban Toàn quốc LH các Hội VHNT VN cho đại diện Hội VHNT Cà Mau - nhà văn Lê Đình Trường - Phó Chủ tịch Hội ( trái ) và đại diện Hội VHNT Bạc Liêu - nhà báo Nguyễn Văn Thanh - Phó Chủ tịch Hội VHNT Bạc Liêu ( phải )

 

 

 

   

    Ảnh 11

 

    

     Ảnh 12

    

Ảnh 11 12: Lãnh đạo Sở VH-TT và DL tỉnh Cà Mau nhà văn Nguyễn Thanh và nhà báo Nguyễn Văn Thanh trao kỷ niệm chương vì sự nghiệp VHNT cho các văn nghệ sĩ tại buổi lễ kỷ niệm 50 năm Tạp chí Lúa Vàng

 

 

 

                                                          

 

                                                           Thư mời "BÀ" Huỳnh Thúy Kiều của chủ tịch Hội VHNT Cà Mau do chủ tịch hội NSNA TRƯƠNG HOÀNG THÊM ký

More...

Không đề tháng mười hai - thơ HUỲNH THÚY KIỀU

By Huỳnh Thúy Kiều

 

 

Bí ẩn em nằm trong lòng tay nắm

Như con tàu hoang phế lạnh sân ga

Ô chữ nhỏ tan nhanh trôi vào đêm mờ mịt

Đào ký ức lên

Xới cho tơi xốp những gam buồn

 

H.T.K

 

More...