Xanh lóng ngóng bờ cỏ non đói gió
Sợ lạc rằm nên ngựa cũng chồn chân
Eo lá nhớ võ vàng treo sợi nắng
Sương so le thả trắng giấc mây chiều
Tôi là Ai?
- Huỳnh Thúy Kiều, hội viên hội VHNT Cà mau
- Nơi làm việc : Nhà xuất bản Phương Đông tỉnh Cà Mau
- Đã in:
+ KIỀU MÂY, thơ, NXB Văn học,H.2008.
+ GIẤU ANH VÀO CỎ XANH, Thơ, NXB Văn học, H.2010
- Giải Nhì cuộc thi thơ trên web thơ trẻ.com lần thứ nhất năm 2007.
- Giải thưởng của Ủy ban toàn quốc liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam dành cho tác giả trẻ với tập thơ "KIỀU MÂY", 2009.
- Giải C cuộc thi thơ 2008 - 2009, Tạp chí Văn Nghệ Quân đội
tìm kiếm
bài gần đây...
-
MỘT VÀI GHI NHẬN VỀ THƠ TRẺ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG - Nguyễn Đức Phú Thọ
Đánh thức châu thổ - Trần Quang Quý
Những dòng sông trong thơ Huỳnh Thúy Kiều - NGUYỄN TRÍ HIẾU
Nguyễn Tấn Cứ viết về nhà văn Đoàn Thạch Biền
HUỲNH THÚY KIỀU - "Thưa với sông Hồng" - NGUYỄN TRÍ HIẾU
Gặp gỡ ở Long Xuyên - HUỲNH THÚY KIỀU
Lần này tôi đã chưa chính xác - HUỲNH THÚY KIỀU
Giữa hai bờ lúa - thơ HUỲNH THÚY KIỀU
Em viết cho anh từ phía cuối chân trời - thơ HUỲNH THÚY KIỀU
Biển khóc - thơ HUỲNH THÚY KIỀU
Tái sinh - thơ HUỲNH THÚY KIỀU
Quán bánh xèo ở bìa rừng tràm - Truyện ngắn của LÊ MINH NHỰT
Chầm chậm tháng ba - thơ HUỲNH THÚY KIỀU
Thơ thế nào là hay? HUỲNH THÚY KIỀU
CHÙM THƠ NGUYỄN NGỌC TÂN ( Hội VHNT Cà Mau )
Ngày thơ Việt Nam lần thứ IX và những dư âm - HUỲNH THÚY KIỀU
Chúc mừng năm mới! HUỲNH THÚY KIỀU
Còn thương rau đắng - tạp văn Huỳnh Thúy Kiều
50 Năm Tạp chí LÚA VÀNG - Đầy ắp kỷ niệm - HUỲNH THÚY KIỀU
Không đề tháng mười hai - thơ HUỲNH THÚY KIỀU
Tôi đón nhân "VỀ NGUỒN" bằng nỗi buồn rất thật - HUỲNH THÚY KIỀU
Các góp ý gần đây
-
H.T.K HTK kính gởi anh Nguyễn xuân Tư. cảm ơn anh về lời chúc mừng tốt đẹp...
Nguyễn Xuân Tư Năm mới chúc Huỳnh Thúy Kiều cùng gia...
H.T.K Cảm ơn anh HK, năm mới chúc anh và gia đình an khang, thịnh vượng!
H.T.K HTK cảm ơn và kính chúc anh letram, năm mới vạn sự như ý!
H.T.K HTK kính gởi MH lời chú mừng năm mới an khang, thịnh vượng!
Hoài Khánh Chúc em cùng gia đình vui khỏe, hạnh phúc trong năm mới!
letram Chúc HTK một năm mới nhiều điều tốt đẹp
letram Nhận lời và chúc lại HTK một năm mới mọi điều như ý
Q.T Kiều ơi, vô đây đọc nè. Còn báo chắc phải đợi THMP gởi heng!
H.T.K Chào anh letram cảm ơn anh đã ghé đọc thơ em. Lâu quá vì nhiều việc bận...
H.T.K Kính gởi anh Nguyễn Quang Vinh, trước hết anh thông cảm cho K vì đã lâu...
letram
vinhnq Tóm lại là hình như rất lâu rồi mới gặp lại TK nhỉ? Thế nên mới dư...Huỳnh Thúy Kiều Gởi mẹ 2 bé Bóng! Lâu nay bận bù đầu, chả biết mạng là gì nên...
Huỳnh Thúy Kiều Xin lỗi đã để chờ bạn lâu vì cũng rất lâu rồi mình không lên mạng....
me2bong Wao! Mẹ xinh con xinh quá!
tìm đường làm lại lần 2. Là giáo viên dạy văn mới ra...
H.T.K Huỳnh Thúy Kiều quý gởi anh Trương Văn Khoa! Cảm ơn anh đã vào trang em...
truongvankhoa Huỳnh Thúy Kiều thân mến ! Lâu lắm rồi, anh mới ghé thăm em. Một entry...
H.T.K Quý gởi anh VC Rất cảm ơn anh về lời mời em gặp gỡ trong chương...
H.T.K Chị Kiều thân gởi Trí Hiếu! Chị sẽ cung cấp thêm cho em thêm một số...
H.T.K Cảm ơn Minh Họa đã thường xuyên vào đọc và ủng hộ blog của Kiều.
VC Thân gửi HTK, anh có xem một vài trang báo mạng đưa tin, hội nghị những...
hieua Em đã nhận được địa chỉ của chị rồi.
MINH HOẠ ước gì có thể viết được cái gì đo như bài này cho thơ HTK. Nhưng lực...
H.T.K HUỲNH THÚY KIỀU nhắn tin chung. Bạn đọc trang Kiều thân mến, trước...
H.T.K Gởi bạn Khách, HTK hiểu ý bạn, "thơ không phải dễ đọc", có lẽ khi đọc...
Khách Chào bạn HTK, bây giờ có người đọc và bình thơ, dù có thể chưa thỏa...
lưu trữ
liên kết cá nhân
-
Chung
Trạng thái của blog
-
Tổng số bài viết: 346
Tổng số góp ý: 3233
Tổng số trackbacks: 0
Tổng số lượt xem bài: 111.051
HUỲNH THÚY KIỀU KÍNH CHÚC CÁC ANH, CHỊ NĂM MỚI 2012,
DỒI DÀO SỨC KHỎE, GIA ĐÌNH AN KHANG, THỊNH VƯỢNG!
- Ảnh: (Từ trái sang ) Nhà thơ Vũ Tuấn, Nguyễn Đức Phú Thọ, Trương Trọng Nghĩa, Trần Huy Minh Phương và HTK)
... Đội ngũ những nhà thơ trẻ chuyên nghiệp của vùng ĐBSCL không đông đảo bằng lực lượng các nhà thơ trẻ ở các đô thị lớn như Hà Nội, Sài Gòn, nhưng mỗi người một cá tính, một phong cách, mỗi sự xuất hiện ít nhiều đều để lại ấn tượng. Có thể nhắc đến: Huỳnh Thúy Kiều, Võ Mạnh Hảo, Trương Trọng Nghĩa, Nguyễn Đăng Khương, Quân Tấn, Vương Huy, Trần Huy Minh Phương… Gần đây, sự “lấn sân” của nhà văn trẻ tài năng bậc nhất ĐBSCL Nguyễn Ngọc Tư cũng đã đem đến cho bạn yêu thơ những bất ngờ, thú vị...
... Có thể thấy, trong Giấu anh vào cỏ xanh, một Huỳnh Thúy Kiều truyền thống mà tươi mới. Và điều thực sự đáng mừng, dường như chị đã khám phá được chính nội lực và bản thể thơ mình. Một Huỳnh Thúy Kiều luôn: “Ám ảnh câu thơ trúc trắc không vần/ Nuôi ký ức/ Buồn về qua bậu cửa/ Nêm vào cô đơn mùi âm thanh của những bộn bề”. Chị biết làm mạnh mẽ, làm chuyển động nhịp điệu thi ảnh bằng cấu trúc động từ và biểu cảm mới cho những con chữ. Nhưng cũng thấy ở chị còn những: vườn trinh nữ, hương cổ tích, hương trời…đã xưa lắm. Những câu thơ phức lễnh loãng, có thể làm miên man sông nước nhưng lại tản ý thơ, nếu cứ lạm dụng. Nói theo phong thủy, hơi thơ, câu thơ, ý thơ, bố cục thơ của chị dường như cần tụ khí hơn, là cảm nhận của tôi...
...Không phải dễ có cơ hội đi Long Xuyên như thế này hoài, nhưng thật sự dư âm của chuyến về Bến Tre đã làm mình đuối sức, không muốn đi đâu cả. Lên phòng định ngủ thì nhà văn Ngô Khắc Tài gọi điện, bảo sang phòng 111 uống trà cho vui vì có nhiều người, mình đã từ chối, nhưng chú Tài bảo sang nói chuyện cho vui, nhiều người nhắc Kiều. Mình vội khóa phòng rồi sang. Ở phòng 111 đã có sẵn nhà văn Ngô Khắc Tài, Phù Sa Lộc, Đặng Hoàng Thám, nhà thơ Trúc Linh Lan, nhà thơ Ngọc Tuyết...
...Màu trắng hoa mắm rừng chiều, đẹp đó, nhưng không đúng chỗ như đàn sếu đánh rơi mũ đỏ ở trên rồi. Cảm ơn người biên tập viên nào đó ở báo Cà Mau đã chữa cho tôi một lỗi mà chắc chắn suốt đời cầm bút này, tôi không bao giờ bị tái phạm...
H.T.K
Cỏ níu bàn chân khi nghe ai ngân câu hò xa xứ giữa triền đê
Đi trên con đường lát bê tông em nghẹn ngào khóc thương bùn đất
Hẹn anh về để mình cùng nhau đi dưới hàng khế giăng chùm hoa tím ngắt
Nhìn mẹ têm trầu sao cái thẹn lại nhuộm đỏ môi em?
H.T.K
CHÙM THƠ TRẦN THU HÀ - HỘI VHNT NGHỆ AN
Trần Thu Hà (bút danh Hà Thái Hoà) sinh năm 1950
- Đã từng là nhạc công đoàn văn công nghệ thuật Nghệ An (chơi đàn thập lục)
- 2007 học lớp bồi dưỡng viết văn Nguyễn Du khoá 1.
- Đã ra mắt bạn đọc 3 tập thơ:
+ 2006 Tình bậc thang (nxb hội nhà văn)
+ 2007 Mặt cắt (nxb hội nhà văn)
+ 2009 Trái đất tự quay (nxb hội nhà văn)
- Giải thưởng của Uỷ ban toàn quốc liên hiệp các hội văn học nghệ thuật VN cho tập thơ "Trái đất tự quay" giải C (không có giải A) năm 2010
Linh cảm
Trăng xô lệch
Hồn trai
Hoá ngọc
Mây thả thuyền
Sông vỡ
Ngực thanh tân
Em hạnh phúc
Niềm vui
Không người lái
Trước hoàng hôn cời cạn giấc khuya
Con còng gió
Vẽ xanh
Vòng linh cảm
Nắng 9 chiều
Rơi rụng trái hồng nhan
Chim gọi bạn
Vỡ sông
Oà mặt nước
Sóng hành trìn
Ướp lạnh
Hồn trai.
Hú gọi
Làm sao em tạnh
Giấc mơ kỳ nhông, quấn mình trong tổ kén anh
Thiêu trụi
Ngả lưng vào đôi mắt
Nhễ nhại
Thở
Em ghép từng mảnh vỡ
Mắt- Môi- Vầng trán thông minh và nụ cười ký gửi
Xoa lớp kem Mascarra cho nỗi đau không rỉ
Anh cắn vào giấc mơ
Bội thực- Thao túng- nhịp nhịp vỗ cánh, đường bay miết miết
Em vung vẫy nhịp điệu thịt da
Ngực nhú đá
Hú gọi
Mầm lách tách
Nhuỵ thơm dâng tràn.
Nhan sắc
Em là nơi về sau niềm vui, nhan sắc cuối mùa tàn
Tro đang nóng
Ngày cạn
Mong chi trả nợ
Đốt tháng năm tạc tượng mùa đi
Em phì nhiêu
Nói gì trong long lanh
Em phì nhiêu
Lót tay tháng ngày sao mong manh
Nồng nàn cho ai?
Thế giới trong em như một giấc mơ dài lượng thứ
Lăn tăn sóng, nếp nhăn di sản, và gió, gió cõng mây đi đâu làm xiếc trong mắt nhau cho nỗi buồn xông đất
Em tin
Một ngày sự cô đơn vỗ cánh khúc khích làm vỡ chùm bóng thời gian
Đừng nói anh
Chúng ta có cùng mẫu số
Bởi
Nước không đổ về sông- mong chi sống
Phù sa sông Tiền em gói thêm e ấp hương tràm
Con cá con tôm nơi mũi Cà Mau vẫn không biết chiều nay biển động
Cây đước cây mắm xõa tán miệt mài lớn lên giữa trập trùng sóng
Đêm Hòn Khoai
Lời tự tình em nhường cho Tổ quốc thương yêu
H.T.K

Nhịp sóng bạc màu biết biển chẳng bình yên
Nhưng tình yêu cứ ngời xanh trên sóng lá
Thế mới biết Tổ quốc thiêng liêng đến lạ
Xác giặc sẽ vùi khi muốn khuấy sóng biển Đông
H.T.K
vùng bản thể xin đừng lạc bầy ong bướm
thảo nguyên xanh hoa cỏ buổi xuân thì
chùm thảng thốt giữa khuya rồi sẽ tạnh
ráo vầng trăng
đêm chưa thể vỡ lúc không rằm
thản nhiên em. Muộn phiền giờ đã tắt
bình minh hồng kéo ta gần nhau hơn
H.T.K
(Xem tiếp)
NHỮNG ĐÁM MÂY BỐC CHÁY là tập truyện ngắn đầu tay của Lê Minh Nhựt - một tác giả 8X viết khá chắc tay của Hội VHNT Cà Mau vừa được NXB Văn Hóa - Văn Nghệ TP.HCM phát hành vào những ngày cuối tháng 4 vừa qua. Sau Nguyễn Ngọc Tư, văn chương Cà Mau lại có thêm một niềm hy vọng mới.
Như một sự tình cờ, có thể bạn gặp Lê Minh Nhựt ghi tên mình dưới mỗi truyện ngắn rất nhẹ nhàng mà cũng hết sức lém lỉnh ở đâu đó trên Thanh Niên, Tuổi Trẻ cuối tuần, Áo Trắng, Văn Nghệ TP.HCM …
Nhân tập truyện ngắn đầu tay của Lê Minh Nhựt vừa ấn hành, HTK xin gởi đến quý bạn đọc một truyện ngắn khá thú vị được chính tác giả chọn lọc từ tập NHỮNG ĐÁM MÂY BỐC CHÁY .
Mong nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của quý bạn đọc, bạn viết và thân hữu dành cho Lê Minh Nhựt qua tập truyện ngắn đầu tay này.
Kính chúc quý bạn đọc, bạn viết và thân hữu lời chúc sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt.
Trân trọng cảm ơn.
HUỲNH THÚY KIỀU
------------------------------------------------------------------------------------------
QUÁN BÁNH XÈO Ở BÌA RỪNG TRÀM
(Tặng Họa sĩ Khởi Huỳnh)
Truyện ngắn của Lê Minh Nhựt
Ngày nảy ngày nay, ở bìa rừng tràm (bìa rừng tức là chưa lọt vô trong rừng mà chỉ lòng vòng bên ngoài chỗ mấy cái bảng “cấm lửa”, “cấm săn bắn”, “rừng là lá phổi quốc gia”,…).
Khác với ngày xửa ngày xưa, ở bìa rừng tràm, ngày nảy ngày nay không có một ngôi nhà nào biết đi trên đôi chân gà; không có cô bé quàng khăn đỏ nào phải đi xuyên rừng để thăm bà ngoại bị ốm; không có chó sói; không có vợ chồng chằn tinh hung dữ…không có tất cả mọi thứ mà trong các truyện cổ tích trong nước hay ngoài nước đều có.
Muốn đến bìa rừng tràm thì không có gì khó khăn cả, ngày nảy ngày nay chỉ cần một chiếc xe gắn máy đổ đầy bình xăng bon bon trên con lộ nhựa hơn tiếng đồng hồ. Nghe bàn dân thiên hạ đồn rằng con lộ hơn ba mươi cây số này được gấp rút hoàn thành hồi năm nẳm chỉ trong vài tháng…nhờ cháy rừng! Nhờ cháy rừng mà cư dân của bìa rừng tràm có lộ tráng nhựa thay cho việc chèo chống mỏi mê trên những con kênh vàng cháy nước phèn với từng bụm bù mắt đen kịt quất vào mặt mũi. Nhờ cháy rừng mà, ngày nảy ngày nay, ven theo con lộ nhựa láng cóng ấy, chỗ dốc cầu kinh Một Rưỡi, ngay bìa rừng, mọc lên một cái quán bánh xèo.
Chủ quán bánh xèo ban đầu không phải là chủ quán bánh xèo(!), chỉ là một nông phụ vì chồng chị ta là nông phu ở bìa rừng tràm, kiêm chủ tiệm tạp hóa, kiêm nội trợ, kiêm giặt giũ…vân vân…nói chung là kiêm đủ thứ mà một người đàn bà ở nông thôn (bị buộc) phải kiêm. Nhưng kiêm gì thì kiêm, nông phụ chưa là chủ quán bánh xèo, trước đó.
Trước cả trước đó, nông phụ còn là một thiếu nữ mười bảy tuổi lẻ một tháng theo cha mẹ lênh đênh trên ghe. Số phận dun rủi (thực ra là cùng đường mạt lộ) xuống tới nơi này để cắt lúa mướn ở những cánh đồng ăn lõm vào rừng tràm. Người ta khoét dần rừng để làm ruộng, ban đầu là chặt cây tràm, đốt những mảng nhỏ sau đó lan dần thành những mẫu lớn giống như đốm lang ben xuất hiện trên da, về sau đốm lang ben nhỏ nhoi ấy ăn lan ra toàn thân. Mùa qua mùa, rừng bị đẩy lùi về phía xa, còn chỗ trước kia là rừng đã trở thành bìa rừng, thành ruộng nương, vườn tược, thành thổ cư, đất lập vườn…thành nhiều thứ khác nữa nhưng không phải là rừng như trước kia.
Khi cắt đến những vạt lúa cuối cùng của cánh đồng còn lởm chởm những gốc tràm sót lại sau trận đốt rừng thì cha mẹ của thiếu nữ mười bảy tuổi lẻ một tháng phát hiện cô con gái của mình đã biến đi đâu mất. Vùng rừng tràm trong câu chuyện của các bậc cao niên nơi đây luôn tồn tại những con rắn hổ mây lớn bằng cái khạp da bò; di chuyển chỉ bằng nửa thân dưới còn nửa thân trên cất cao bằng cả đọt tràm. Trên đường rắn hổ mây bò qua cây cối đều ngã rạp. Có người còn cả quyết khi mới đến vùng này, vào ban đêm họ thường xuyên thấy rắn hổ mây khổng lồ đi kiếm ăn với cặp mắt lớn bằng nắm tay, miệng liên tục phì phì phun nọc. Trong khi người vợ đấm ngực kêu trời vì “đứa con gái của mình giờ này chắc đã nằm gọn trong bụng rắn” thì người chồng tay cầm mác vót quần nát từng gốc tràm, lùm choại để “tìm con rắn hổ mây khổng lồ mà rạch bụng nó đem xác con ra, sống phải thấy người, chết phải thấy xác”. Rốt cục, người chồng tìm thấy con gái tại một đám năn cao lút đầu với thằng con trai của chủ ruộng trong tư thế của một cặp rắn. Hai đứa đã quần nát cả một đám năn rộng gần nửa công đất.
Sau đó thì thiếu nữ mười bảy tuổi lẻ một tháng được lên bờ và trở thành nông phụ ở xứ tràm (cái trò rắn ở giữa đám năn đó quả là có lợi); cha mẹ của cô trở lại ghe tiếp tục đời lênh đênh (vì họ không có can đảm diễn trò rắn như con gái của mình?!).
Vào năm đứa con gái được mười lăm tuổi thì nông phụ bị chồng bỏ! Đây là cách diễn đạt chính xác nhất về hoàn cảnh của một nông phụ ba mươi hai tuổi lẻ một tháng.
Ngủ một đêm tới sáng thức dậy, nhìn sang chỗ chồng nằm: vắng ngắt! Tới giờ cơm ra sau chái nhà bắc loa tay hú thật lớn về phía rừng, một hồi, hai hồi, ba hồi: không nghe tiếng hú đáp trả! Đến tối: nằm lăn lóc trên chiếc giường trống trơn, quờ tay tứ phía chỉ toàn là mùng với chiếu! Một ngày, hai ngày, một tháng, hai tháng, vẫn vậy…đích thị là chồng bỏ rồi, còn gì?!
Chồng bỏ tháng trước, tháng sau, nông phụ cùng con gái khiêng bếp lò, xoong chảo ra trước nhà nổi lửa rừng rực. Ai đi ngang cũng dừng lại thắc mắc, hỏi han: Bị chồng bỏ rồi còn làm gì vậy bà nội? Chiên bánh xèo, chồng bỏ thì cũng phải tiếp tục mần ăn để sống chớ có phải chết đâu mà không làm! Cứ tưởng hỏi vậy để chọc nông phụ nổi nóng sửng cồ chơi, ai dè chồng bỏ thì cũng nhẹ hẫng như không. Vậy bánh xèo chắc là có bán chớ? Ừa, mua thì bán, mẹ con tui đâu có tính ăn bánh xèo trừ cơm!
Vậy là kể từ đó, ngày nảy ngày nay, nông phụ trở thành chủ quán bánh xèo ở cầu kinh Một Rưỡi, bìa rừng tràm.
Chủ quán bánh xèo (từ nay cứ gọi là chị cho ngắn gọn) chưa từng đặt chân qua bìa rừng tràm phía bên kia. Khi trước (tức là lúc chồng chưa bỏ) cũng từng có ý định nhưng mỗi khi vừa mở miệng là chồng chị lại gạt phăng: bên kia cũng giống như bên mình thôi chớ có con khỉ khô gì đâu mà đòi đi! Lâu dần, trong tâm trí chị cũng quen rằng: Bên kia không có con khỉ khô nào. Đến bây giờ, mặc dù cũng chưa qua đến đó nhưng chị đã biết chắc rằng: bìa rừng tràm phía bên kia đã có hơn cả con khỉ khô, một thứ mà trước giờ chưa từng ai nhìn thấy, đó là tổ của con chuồn chuồn!
Hàng xóm láng giềng bảo rằng chị nên qua phía bên kia bìa rừng tràm một lần. Để làm gì? Thì quậy tới bến cho biết mặt! Quậy là quậy làm sao? Quậy là đánh ghen đó, bợp tay vào mặt con quỷ cái giựt chồng người khác, không thôi người ta nói mình ngu! Ủa, con quỷ đó đâu có giựt chồng của tui, tại chồng tui theo nó đó chớ! Hết nói nổi bà khùng này luôn!
Quán bánh xèo luôn đông khách, nhất là vào buổi sáng sớm và chiều tối. Dân ở đây không có thói quen ăn sáng nhưng từ khi có quán, tụi học sinh sáng nào cũng tạt vào bỏ bụng mỗi đứa một cái rồi mới đi học; cũng có khi dân đi ruộng, gác kèo ong chơi sang rủ nhau vào…ăn chịu, để đó đợi bán lúa, bán mật ong trả một lần. Chiều tối dân trong rừng từ lúc có quán bánh xèo cũng siêng đi chơi đêm, nói đi chơi cho sang chớ huỵch toẹt ra là đi ăn bánh xèo ở kinh Một Rưỡi rồi về ngủ. Mà chẳng lẽ chỉ ăn bánh xèo suông thì cũng vô duyên, vậy là kêu vài xị đế để đưa cay. Vậy là cũng xỉn như ai!
Bánh xèo ở cầu kinh Một Rưỡi chỉ bằng bàn tay xòe của người lớn, vài cọng giá ốm tong teo, vài ba miếng thịt không đáng gọi là thịt vì nó chỉ bằng cỡ đầu đũa ăn. Lớp bột mỏng dính như lớp phấn của cô gái nhà nghèo từ nhỏ đến lớn, lần đầu tiên được người yêu mua cho hộp phấn trang điểm rẻ tiền bằng tiền bán cá cắm câu hồi đêm. Cô chỉ dám dùng mỗi lần một ít, chỉ khi nào đi chơi với người yêu mà thôi, dè sẻn đến nỗi lúc cô dùng phấn hay không dùng phấn thì người khác cũng chẳng thấy khác biệt là bao. Chỉ có người yêu cô là biết rõ, vì anh ta đi sát bên…nên ngửi được mùi.
Ấy là khi ăn đến no nê, béo ngậy mồm miệng thực khách mới dám xì xầm chê bai món bánh xèo ở cầu kinh Một Rưỡi và đem nó ra so sánh với món bánh xèo ở chợ tỉnh – thứ mà có lần họ từng nếm thử với giá cắt cổ (hoặc chỉ nghe loáng thoáng từ người khác). Bánh xèo ở ngoài tỉnh chỉ dòm thôi là đã thấy thèm, đã có cảm giác no nê lan tỏa khắp người; chiếc bánh tròn trịa mập mạp, đầy đặn, vàng hực, tươm đầy dầu mỡ, phần nhân thịt thì khỏi nói, thịt đúng là thịt. Nói chung, bánh ở cầu kinh Một Rưỡi chẳng là cái nghĩa địa gì cả…
Ấy là khi họ ăn no. Ngày hôm sau, chính cái người chê nhiều nhất lại đến sớm nhất ngồi đồng ở quán để chờ cái bánh xèo đầu tiên vừa rời chảo.
Dân rừng tràm cho rằng, nguyên nhân là do món rau rừng.
Thực lòng mà nói thì mấy loại rau này có thể tìm thấy bất cứ đâu, trong vườn nhà, cặp mé ao đìa, dọc hai bên đường đi, ven bìa rừng…Khi đó chúng chưa được coi là rau mà chỉ là những loại cỏ khả dĩ ăn được khi trong nhà không còn thứ rau nào khác để bỏ vào miệng. Nhưng khi những loại cỏ đó hiện diện trên bàn ăn trong quán bánh xèo ở cầu kinh Một Rưỡi thì lại khác rồi, chúng đường hoàng được gọi một cách trang trọng là rau: rau the, lá lụa, lá chòi mòi, lá cát lòi, lá cơm nguội, lá cách…
“Đố cha thằng nào vô đây ăn bánh xèo mà dám kêu rằng: Ê, chủ quán cho một rổ cỏ coi!” – Bảy Lưu Linh dằn mạnh chai rượu xuống bàn trước mặt thằng Tuấn “đèo” miệng mồm đang nhồm nhoàm dầu mỡ - Mày thử nói coi, đây là rau hay cỏ? – Lão Bảy chỉ tay vô mớ rau đang chạy vô miệng thằng Tuấn, còn tay kia thì dứ dứ chai rượu trước mặt thằng Tuấn. R…a…u! - Tuấn “đèo” phồng mang trợn mắt cố ực một tiếng, đẩy mớ rau xuống cổ họng, thở hổn hển. Vậy rau có ngon không? Bảy Lưu Linh vẫn chưa chịu buông tha thằng nhỏ. Dạ, rau ngon, ngon lắm! Coi mòi Tuấn “đèo” đã muốn xỉu, lão Bảy mới kề miệng phả sặc sụa mùi rượu vô sát tai thằng Tuấn: Nói cho mày biết, trước khi hái rau bao giờ tao cũng đái vô gốc cây một lượt, bởi vậy mới ngon, mày mà hở răng ra với ai là chết với tao!
Bảy Lưu Linh tên thật là Bảy Linh nhưng vì nhậu như hũ chìm nên được dân rừng tràm lấy luôn tên của ma men Lưu Linh để đặt cho. Lão Bảy là mối duy nhất cung cấp rau cho quán bánh xèo cầu kinh Một Rưỡi. Ngoài khả năng uống rượu như uống nước lã ra, lão còn là một con ma rừng đệ nhứt xứ tràm. Bảy Lưu Linh luôn là mục tiêu truy đuổi của lực lượng kiểm lâm vì lão chuyên lén lút tận khu vực rừng cấm để gác kèo ong mật. Ngó bên ngoài lão ốm nhách, lòng thòng lúc nào cũng kè kè chai rượu, đi đứng không xong vậy mà lầm. Vô được rừng lão lẩn nhanh như lươn chui xuống sình, không ngóc ngách nào mà lão không biết. Bảy Lưu Linh thuộc rừng như lòng bàn tay của mình. Đối với lão, rừng tràm là cái hộc tủ của riêng mình. Cần dùng thứ gì là xách dao vô rừng, chỉ một buổi đem ra ôi thôi cá mắm, rùa rắn, mật ong. Lão chỉ bán đủ tiền để mua gạo, mắm muối vài thứ lặt vặt cần thiết cho nhu cầu tối thiểu của một lão già độc thân. Còn lại Bảy Lưu Linh đem đổi rượu hết. Lực lượng kiểm lâm nhiều lần điên đầu với con ma rừng này, nhất là vào mùa khô hạn, thông báo cấm vào rừng gác kèo ong đối với lão ma rừng dường như chỉ là một lời nói chơi không hơn không kém. Cấm buổi sáng thì đến trưa đã thấy lão lót tót luồn lách để chui vào cái tủ của mình. Kiểm lâm rượt đuổi rần rần phía sau thì đằng trước Bảy Lưu Linh lúc ẩn lúc hiện sau những gốc tràm, lùm dây choại rậm rịt. Chỉ lát sau là mất dấu lão, chỉ vẳng lại tiếng léo nhéo khật khừ của Bảy Lưu Linh như trêu chọc: Làm gì dữ vậy tụi bây, tao vô thẻo cục mật về xài, lát ra liền, không có đem theo lửa khói đâu mà sợ cháy!
Lấy ong mật mà không đem theo lửa khói thì có ma nó tin, nhưng có lần kiểm lâm mai phục ngay kèo ong của lão đã tận mắt chứng kiến con ma rừng này thổi…hơi vào tổ ong, cả đàn ong lập tức tản ra rúm ró về một phía đầu kèo, thế là lão ung dung dùng mác vót cắt một tảng mật tổ bố bỏ vào thùng. Lúc đè được con ma rừng xuống đất, lục soát khắp người thì chẳng tìm thấy hột quẹt hay nhang khói chi cả. Tờ biên bản của kiểm lâm đến nay còn cất trong hộc tủ, phần tang vật ghi vỏn vẹn: 01 cây mác vót, 01 thùng đựng mật, 01 tảng mật.
Từ dạo ấy, danh tiếng của Bảy Lưu Linh ở xứ tràm đã nổi nay còn nổi hơn. Người ta đặt hẳn một câu chuyện đầy huyền thoại về lão: Rượu đối với con ma men này đã thành máu thịt, thành hơi thở nên đi lấy ong mật không cần đem theo lửa khói. Chỉ cần kê miệng vào tổ ong thổi phù vài hơi là cả đàn ong đều xỉn rượu hết thấy đường sá chi mà đánh nữa. Có người thì bảo rằng: tầm bậy, làm gì có chuyện ong xỉn rượu! Chẳng qua là lão già này có phương thuốc bí truyền để lấy ong mà khỏi bị đánh. Bằng chứng là trước lúc vào rừng lấy ong, lần nào lão cũng nhai nhồm nhoàm cả nắm lá cây gì đó mà chưa ai từng thấy bao giờ. Đích thị đó là loại lá thuốc để lấy ong.
Bây giờ thì Bảy Lưu Linh chẳng còn vào rừng để lấy ong nữa vì kể từ khi quán bánh xèo kinh Một Rưỡi khai trương lão đã có mối cung cấp rượu. Với biệt tài đi rừng của mình, chỉ cần vài chục phút đồng hồ là lão đã lôi từ ngăn tủ của mình ra hằng hà sa số các loại rau cỏ dùng để ăn kèm với bánh xèo. Cứ mỗi lần đổi rau là lão lại được đầy một chai ba xị; cứ mỗi lần đem cái chai trống rỗng ấy đến quán là lão lại hù thằng Tuấn “đèo” một trận xanh mặt. Và chỉ có thằng Tuấn “đèo” mới sợ Bảy Lưu Linh chứ tụi con nít trong xóm coi lão như một gã hề, chọc cho đỡ buồn không hơn. Lý do để thằng Tuấn sợ Bảy Lưu Linh thì chỉ có lão với nó biết: Đó là con ma men này đã bắt trúng tim đen của thằng nhỏ!
Có lần, Bảy Lưu Linh đem rau tới quán để đổi rượu thì bắt gặp thằng Tuấn “đèo” dòm không nháy mắt vô cổ áo con Lụa – con của chủ quán đang dọn dẹp chén đũa trên bàn. Chết cha mày rồi con ơi! Đợi con nhỏ quay vô nhà, Bảy Lưu Linh mới túm lấy cổ áo thằng Tuấn “đèo”: Ê, dòm vú lén hả mậy? Đâu…đâu có đâu! Tui dòm hồi nào, ông già? Thằng Tuấn đèo mặt mày sượng ngắt. Khỏi chối, tao thấy hết, tao mà méc lại là con mẹ nó xé xác mày ra, sau đó báo lại với kiểm lâm…Báo kiểm lâm làm gì? Mày đúng là cái thằng điếc nhứt xứ, kiểm lâm vừa có thông báo thằng nào dám dòm vú con gái bất hợp pháp là đuổi khỏi rừng tràm. Nghe rõ chưa con?!
Bị đuổi khỏi rừng là tàn mạng, bởi Tuấn “đèo” không còn biết đi đâu nữa. Mười bảy năm trước nó đến nơi này trong chiếc giỏ đệm treo trên nhánh tràm dưới chân chòi canh lửa, may mà chưa bị kiến vàng cắn cho tới chết nhưng hình như ở trong giỏ lâu quá nên không lớn nổi nên mới còi cọc chết danh “đèo”. Bây giờ mà bị đuổi ra khỏi nơi này chỉ vì cái tội dòm vú con gái bất hợp pháp thì đúng là lãng nhách. Thế nên nó đành ngậm bồ hòn với Bảy Lưu Linh, cho lão già này lên mặt với nó cũng chẳng mất mát gì miễn là nó còn được ở lại xứ này, mỗi sáng lại được gặp mặt con Lụa ở quán bánh xèo cầu kinh Một Rưỡi. Để được nghe con nhỏ này hỏi nó, dẫu chỉ một câu cũ mèm, duy nhứt trong ngày: Ê, “đèo”, mấy cái?
Một ngày nào đó của ngày nảy ngày nay, giữa mùa khô, có người trở về từ phía bên kia rừng tràm.
Nông phu về đòi lại những thứ thuộc về anh ta. Mấy công đất ruộng vẫn còn lởm chởm gốc tràm. Chiếc tivi màu mười bốn in mua hồi năm trúng lúa. Những thứ chia đôi được đều chia đôi, không từ cả nồi niêu xoong chảo, chén đũa…
Ngoại trừ người đàn bà đã quên mất tuổi của mình. Chị không còn là nông phụ nữa mà đã trở thành chủ quán bánh xèo ở kinh Một Rưỡi. Chủ quán bánh xèo thì chưa bao giờ là thứ thuộc về anh ta.
Nông phu vẫn còn nhớ mình có một đứa con gái, anh ta đưa mắt nhìn nó. Con Lụa cụp mắt xuống chảo bánh xèo bốc khói khét nghẹt. Cha tui chết rồi!
Nông phu thấy mình đã trở thành kẻ cướp, kể từ giờ phút này.
Chủ quán bánh xèo đi đâu? Đi đâu? Dân rừng tràm nháo nhác hỏi nhau khi sau cái ngày nào đó của ngày nảy ngày nay, nơi cầu kinh Một Rưỡi chỉ còn trơ lại cái xác nhà. Không còn bánh xèo. Không còn rau rừng. Không còn chỗ cho Bảy Lưu Linh đổi rau lấy ba xị rượu. Không còn con Lụa để thằng Tuấn “đèo” được nghe câu cũ mèm, duy nhứt: Ê, “đèo”, mấy cái?
Không còn tất cả mà mới đây ở cầu kinh Một Rưỡi đã từng có.
Bảy Lưu Linh lại trở về như trước kia, luồn lách như ma trong rừng tràm và chơi trò trốn tìm với kiểm lâm.
Tuấn “đèo” chiều nào cũng đến chỗ cái xác nhà, ngồi y nguyên ngay chỗ cũ miệng lảm nhảm: Đổ cho tui ba cái bánh xèo, Lụa ơi! Kể từ đó chẳng còn ai nhớ cái tên Tuấn của nó nữa, dân rừng tràm đều gọi nó là thằng “Đèo khùng” đang thất tình con của chủ quán bánh xèo.
“Đèo khùng” nơi cái xác nhà hôm nào cũng mời khách đi đường tạt vô “ăn bánh xèo” và nghe nó kể chuyện ngày nảy ngày nay: về cái quán bánh xèo cầu kinh Một Rưỡi cùng mối tình không bao giờ lớn của mình với con Lụa. Con nhỏ đã nhiều lần “tỏ tình” với nó chỉ bằng câu: Ê, “đèo”, mấy cái?./.
( Tác giả tự chọn từ tập truyện ngắn NHỮNG ĐÁM MÂY BỐC CHÁY )
hoa súng nở lòe mặt ruộng
hững hờ chi anh còn may áo mỏng cuối giêng?
tháng ba nắng lùa em bừng lên ngực
gọi ngày giông bão đan xen
H.T.K
vén ngày nắng để những yêu thương bồng bềnh theo sắc gió
trôi đi
trôi đi
tháng ba
bình minh xanh nằm vắt ngang chùm lá gõ khúc giao mùa
H.T.K

Thơ thế nào là hay?
HUỲNH THÚY KIỀU
Câu hỏi này đã, đang và sẽ cứ tiếp tục treo lơ lửng trên đầu, bất kỳ ai, từ những nhà thơ nổi tiếng đến người vừa cầm bút. Đã có hàng ngàn người trả lời, trả lời ngay khi loài người có thơ, thơ song hành cùng với loài người. Tuy vậy, nếu quy ra thành mẫu số chung thì lại rất khó có một định nghĩa làm thỏa mãn tất cả mọi người.
Nhà thơ Lưu Trọng Lư cho rằng: "Một câu thơ hay là một câu thơ có sức gợi”. Một câu thơ có sức gợi có thể tạo ra muôn ngàn cách nghĩ, dường như rất khó đọc hết một câu thơ, một bài thơ hay. Một trong những bài thơ theo tôi hay nhất trong thơ Việt Nam hiện đại là bài Tiếng Thu. Đây cũng là bài thơ rất giàu sức gợi, gợi từng câu, từng chữ. Hồn vía nhà thơ đã hòa nhập vào từng con chữ, biến ảo mà thành ảnh, thành thơ. Từng câu thơ cho người đọc nghe được âm thanh, quạnh hiu và có nhiều liên tưởng. Sự liên tưởng này tùy theo tình cảm của từng người và cả từng lúc, từng nơi, từng tâm trạng, tạo nên sự phong phú lạ thường.
Nhưng tôi đã đọc có câu thơ, bài thơ cũng chẳng phải gợi mà lại nhập tự nhiên vào tâm thức người đọc. Đó là trường hợp Màu tím hoa sim của nhà thơ Hữu Loan. Ông cứ tự sự, như kể chuyện, có sao kể vậy, không hoa lá, thêm thắt gì, những hình ảnh và ngôn ngữ rất đỗi quen thuộc. Khi bài thơ kết thúc ta mới thấy toàn bộ nỗi đau của nhà thơ trước sự mất mát của người vợ trẻ. Ý thơ được giấu tận cùng và bung ra nhưng không bi lụy. Bài thơ là tấm gương mà bất kỳ ai soi vào cũng thấy mình trong đó.
Nếu gợi là đúng thì cũng phải chấp nhận chân thành cũng không sai. Nhưng bí ẩn của thơ cũng không chỉ có thế. Nhà thơ Tố Hữu cho rằng: “Thơ là chuyện đồng điệu”. Khi khác ông lại nói: "Thơ chỉ bật ra trong tim ta khi cuộc sống đã tràn đầy”. RaxunGamzatop rất có lý khi ông nói: “Anh có thể viết chừng nào cảm thấy không thể không viết”. Nhà thơ Xuân Diệu cho rằng:“Thơ là tiếng gọi đàn.” Có lúc ông lại nghĩ: “Thơ là bà chúa của nghệ thuật”. Thơ hay, hoàn hảo đến mức không có bất kỳ vết gợn nào. Sự hoàn hảo bắt đầu từ những con người có tâm hồn đặc biệt. Có phải vì thế mà nhà thơ Chế Lan Viên viết: “Thi sĩ không phải là Người, nó là Người Mơ, Người Say, Người Điên. Nó là Tiên, là Ma, là Quỷ...”
Chỉ nghe ý kiến của những nhà thơ có vị trí đặc biệt trong nền thơ hiện đại Việt Nam cũng thấy, muốn hiểu thế nào là thơ hay, thật khó. Tôi rất thấm với ý kiến sâu sắc của nhà thơ Thạch Quỳ khi ông cho rằng: Thơ cao hơn tất cả mọi nhận thức về thơ.
Thơ là gì, thơ là ai, nó ở trong hay ngoài nhà thơ? Nếu không có những vui, buồn trong cuộc sống với nhà thơ, nếu trong trái tim nhà thơ không còn sự rung động, liệu nhà thơ có thơ không? Sau tất cả những vui, buồn đã gặp, đã ăn sâu vào tiềm thức của nhà thơ, nhà thơ đặt bút viết, bài thơ tự nhiên chảy một mạch liền. Khi nhà thơ viết xong bài thơ, tôi có cảm giác nhà thơ như người mẹ trẻ đi ra từ nhà hộ sinh, trên tay bế đứa con vừa mới chào đời. Lòng bỗng nhẹ nhõm và tràn ngập niềm vui. Thơ đòi hỏi sự trải nghiệm bao nhiêu thì thơ lại đòi hỏi phải tươi non bấy nhiêu. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, thơ đã làm tròn bổn phận vinh quang, đã tạo ra những bài thơ hay, những thế hệ nhà thơ xứng đáng với lịch sử dân tộc. Những chi tiết thơ từ thực tiễn kháng chiến đã vào thơ, đẩy thơ Việt Nam lên một tầm cao mới. Vì thực tiễn phù hợp với lịch sử mà thơ Việt Nam âm vang một niềm kiêu hãnh hướng về phía trước với niềm tin vô hạn. Tất cả sức mạnh của dân tộc Việt Nam đã được huy động, tạo cho thơ một thời đại không phải bao giờ cũng có. Có lẽ vì thế mà các nhà thơ thời thơ mới như Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên… đã chuyển mình kịp thời cùng với các nhà thơ lớn lên cùng kháng chiến: Tố Hữu, Nguyễn Khoa Điềm, Hồng Nguyên, Nguyễn Đình Thi, Chính Hữu, Trần Hữu Thung, Lê Anh Xuân, Phạm Tiến Duật, Bằng Việt, Hữu Thỉnh, Nguyễn Duy, Thạch Quỳ, Xuân Quỳnh, Nguyễn Trọng Tạo… và rất nhiều nhà thơ khác tạo nên đội ngũ các nhà thơ cách mạng hùng hậu.
Nếu thơ mới (1930-1945) đã vượt qua quá khứ trì trệ và góp phần đào tạo ra thế hệ các nhà thơ kháng chiến thì chính thơ kháng chiến đã làm mẫu mực cho những người cầm bút thế hệ sau. Thơ kháng chiến không tạo ra thêm những thể loại mới nhưng nó có công rất lớn trong việc đưa ngôn ngữ mới vào thơ. Ngôn ngữ ấy là của nhân dân lao động, những ngưới lính cầm súng góp phần tạo ra. Các nhà thơ đã thuần dưỡng và sử dụng một cách rất hồn nhiên. Thơ cổ vũ nhân dân và đến lượt, nhân dân đón đọc và cổ vũ làm cho thơ Việt Nam không ngừng phát triển và tươi mới. Sự cộng hưởng giữa thơ với người đọc tạo nên một bức tranh sinh động và huyền ảo, góp phần làm phong phú hơn vẻ đẹp tinh thần của con người.
Thơ là cảm xúc dâng tràn, nhưng cảm xúc nào cũng chứa đựng nội dung. Nội dung hay hình thức đều bắt đầu từ cảm xúc mà hiện hình lên. Những hình thức mà các nhà nghiên cứu phát hiện không thể bao trùm hết thơ. Thơ bao giờ cũng muốn bứt tung ra ngoài các hình thức đã được khái quát. Thơ là riêng biệt. Thơ trừu tượng, khái quát bằng hình tượng nên không thể lấy sự cảm nhận của người đọc này áp đặt thành sự rung động cho người đọc khác. Thơ hay còn cần thiết chờ đợi sự kiểm nghiệm qua thời gian và qua nhiều thế hệ tiếp nối khác nữa. Tất cả những nhà thơ lúc nào cũng hồi hộp cùng những bài thơ của mình đi trên cầu dẫn đến phía cuối đường, nơi có cánh cửa cuối cùng. Không phải bài thơ nào cũng qua được và nếu qua được cánh cửa vô hình ấy, thơ sẽ tồn tại và đó chắc chắn là thơ hay. Có người cho rằng thơ có thể một thời và thơ hay mới của nhiều thời! Nói thế nào là thơ hay, khi trả lời tôi sợ chủ quan trước “ban giám khảo” quá khó tính, đó là thời gian và công chúng.
Lớp trẻ chúng tôi thật may mắn khi lớn lên, thơ Việt Nam đã có bề dày lịch sử đầy đặn, đã tạo nên một vườn hoa tỏa nhiều hương sắc. Lịch sử văn học nói chung và riêng thơ rất công bằng khi đòi hỏi thơ phải vượt lên khẳng định mình thì chính cuộc sống cũng tạo ra tiền đề để các nhà thơ tài năng có cơ hội bứt phá. Các nhà thơ trong hai cuộc kháng chiến, thực tiễn thời ấy cũng tạo ra các điều kiện để họ vượt lên khẳng định mình cao hơn, xa hơn. Đó là đất nước có chủ quyền và tiến hành hai cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc. Và như trên tôi đã nói, những nhà thơ kháng chiến đã thành công, kế tục, phát triển xứng đáng với nền thơ Việt Nam hiện đại mà thơ mới đã mở đường.
Mang trong mình niềm tin đã được kiểm chứng đó, tôi nghĩ về thơ của các nhà thơ trẻ hiện nay. Nếu các nhà thơ kháng chiến đắm mình trong các cuộc chiến đấu với mục tiêu giành độc lập dân tộc thì các nhà thơ trẻ hiện nay lại đắm mình vào cuộc chiến khác, cuộc chiến thoát nghèo vươn lên giàu có trong nền kinh tế thị trường. Trong giai đoạn đất nước mò mẫm tìm đường đi, đời sống khó khăn, thơ cũng mất mùa. Nhưng sau 1986 thơ Việt Nam đã có khởi sắc và vượt lên, phải kể từ các nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, Tuyết Nga, Mai văn Phấn, Dương Thuấn, Phạm Thị Ngọc Liên, Trương Nam Hương… Trong thơ họ, tính khái quát khá cao. Bước qua lối mòn của thơ vần điệu mà vươn lên nhạc điệu. Hình thức thơ vượt qua các thể loại đã mòn, tạo ra hình thức thể hiện mới hơn. Ngôn ngữ dày, đa vỉa tầng, đọc phải suy ngẫm. Cái hay của thơ thời kinh tế thị trường thường nằm sâu hơn. Có người cho thơ dễ nhớ, dễ thuộc như một đặc điểm vốn có của thơ. Tôi nghĩ không hẳn như vậy. Ngày nay càng thấy rõ vì cuộc sống không chỉ một mục tiêu mà nhiều mục tiêu. Thực tiễn mở ra rộng lớn, tình cảm con người phức tạp hơn nhiều lần. Thơ phải khái quát các tình cảm trừu tượng bằng các hình tượng vừa thực vừa mơ, phải thuần dưỡng ngôn ngữ mới còn nhiều xa lạ. Thơ các nhà thơ trẻ không thể dễ thuộc như xưa.
Nói đến thơ hay là phải nói tới người đọc hay. Thời thơ mới, được đón nhận từ những người trẻ tuổi, trong số đó đa phần là học sinh, sinh viên, thanh niên. Thơ kháng chiến dường như toàn dân đọc nhưng trước hết vẫn là những người trẻ tuổi đang hướng về cuộc chiến đấu. Thơ mới và thơ kháng chiến ăn sâu vào tâm trí người đọc đến mức nhiều bạn đọc an nhiên, thơ là như thế! Người đọc thơ vài chục năm nay bị ảnh hưởng quá khứ quá nhiều nên ít đọc thơ các nhà thơ trẻ. Ngay một số ít nhà thơ thành danh cũng chưa thoát ra khỏi thơ truyền thống nên đọc thơ mới theo mắt cũ. Khi thế giới, các nước nương tựa vào nhau, hội nhập thì thẩm mỹ thơ đang có nhiều thay đổi. Hội thơ rằm Nguyên tiêu hàng năm thả thơ lên trời, dư luận năm nào cũng còn nhiều ý kiến. Điều này cho thấy thơ hay còn nhiều quan niệm khác nhau. Tuy vậy, xu hướng đang dần tiến bộ. Tôi tin thơ trẻ sẽ đến lúc chiếm lĩnh thi đàn vì nó vừa biết kết hợp hài hòa những ưu điểm vượt trội của các thế hệ cầm bút đi trước, vừa bứt phá mạnh mẽ, táo bạo nên nhanh chóng đáp ứng được nhu cầu đọc của lớp trẻ. Tuy nhiên, trong thơ trẻ hiện nay có khá nhiều tác giả viết quá bế tắc trong cách nhìn. Họ chưa nhận thức được con người cụ thể có thể bế tắc nhưng cuộc sống thì không. Bản chất cuộc sống luôn tự tìm được đường đi, những cái nhìn bế tắc không phù hợp với cuộc sống. Cuộc sống phát triển rất nhanh, cái mới bị cũ đi nhanh chóng. Con người đang tập trung cho cái ăn, cái mặc, chừng mực nào đó nhiều người chưa quan tâm nhiều đến thơ.
Thơ trẻ có hay không? So với những người trẻ tuổi làm thơ hiện nay thì những nhà thơ trẻ có thơ hay chưa nhiều. Nhưng nếu đọc kỹ sẽ thấy thơ trẻ có nhiều phát hiện mới, lạ, táo bạo trong hình ảnh và hình thức thể hiện. Thơ trẻ phần lớn vượt qua thơ vần điệu để đến với những câu thơ có nhạc. Ngôn ngữ thơ mới được thuần dưỡng cần có thời gian chiêm nghiệm. Đã hiện hình lên những khuôn mặt mới từ nhiều vùng trong cả nước, bước đầu được công chúng quan tâm: Đinh Thị Như Thúy, Lê Vĩnh Tài, Phan Huyền Thư, Trần Tuấn, Nguyễn Phan Quế Mai, Trịnh Sơn, Nguyễn Đăng Khương, Trương Trọng Nghĩa…
Thơ hay, đặc biệt là thơ của các tác giả trẻ đã và đang dần phát lộ, rồi cũng sẽ được kiểm chứng qua thời gian.
Nguồn: Văn nghệ Trẻ, số 12, chủ nhật, ngày 20-3-2011
CHÚT TÌNH ĐẤT NƯỚC RIÊNG TA
Tặng anh Huỳnh Văn Quốc!
Đất nước mình thắt lưng hình con cá ngựa
Bơi đứng trong đại dương ngút ngàn
Để cho nắng túa thêm màu xanh biển
Và gió thì thầm khoác tấm áo mênh mang
Xưa ai vãi tung cái nhớ thành quần đảo
Nay ta lấy cái nhớ em làm đường chân trời
Phải vậy không mà sự dịu dàng của biển
Uốn éo thành duyên dáng Hạ Long?
Ta đâu tiếc nên đôi khi đành lỗi hẹn
Với Nha Trang hồi hộp những hòn chồng
Thử một phút trôi về miền Đất Mũi
Vẫn đục ngầu thương nhớ với chờ mong…
Cha ông xưa vót chông từ tre trúc
Nay ta vót chông từ những chuyến đợi tàu
Cha ông xưa hát trên dải Trường Sơn hùng vĩ
Nay ta hát yên bình giữa rừng đước Cà Mau!
Hãy ngăn gió không cho làm sóng dữ!
Hãy ngăn mây không cho hóa bão bùng!
Để cho tiếng thở em thơ mềm mại
Để người ta yêu hóa những mẹ hiền…
Ta vẫn thích trở về dòng Sông Mã
Hò hét tung tăng như cỡi gió trời
Ta vẫn thích trở về dòng sông Đáy
Lửng lơ con thuyền nằm chờ gọi - đò ơi!
Ta vẫn khoái đong đưa trên Hải Vân ngọn
Để ngắm đất nước trong im lặng tận cùng
Rồi theo gió trôi về dòng Hương lặng
Trong hoang phế hoàng thành ta lại nhớ Quang Trung!
MÙA KHÔ DA DIẾT
Ngột ngạt những chiều mùa khô tươm nắng
Gió chả ham quẫy đuôi trên mặt sóng
Nước chưa kịp trong con nước đồng bằng
Gió đang về hay lang bạt nơi đâu?
Cho hàng cây đứng im ngơ ngác gọi
Nhớ nhau chi ngầy ngật váng đầu!
Năm anh về mùa cũng khô mênh mông
Căn phòng em nắng vàng say mê thổi
Nụ anh cười mênh mang như sông…
Em gói mùa khô trong vẹn nguyên chữ đợi
Bao mùa khô ra đi mấy mùa khô trở lại
Chỉ mình em khắc khoải giống như mùa!..
Anh ạ! làm sao gỡ bỏ được chữ mong
Hoa nắng bủa vây mùa khô ngột ngạt
Hơi nóng chiều nay ai thả đến ngộp lòng?
Anh không về mùa lại vẫn khô cong…
Căn phòng em chật nặng mùi gió biển
Thổi qua lòng nhà rin rít rỗng không…
Cà Mau mùa khô 27-3-2009
VỚI TẢN ĐÀ
Có về sổ ước mơ vuông
Gói thơm rau sắng chùa Hương nắng chiều
Mới hay cụ Tản* sống bèo
Chiều ba mươi tết nắng nghèo liếm tay!
* Cụ Tản Đà - nhà thơ lừng danh một thời.
NGÀY THƠ VIỆT NAM LẦN THỨ IX VÀ NHỮNG DƯ ÂM
HUỲNH THÚY KIỀU
HTK ở sân thơ Hiện đại ngoài Văn Miếu Quốc tử Giám ngày thơ năm nay
Cũng như Ngày thơ Việt Nam lần thứ 7 năm 2009, Ngày thơ lần thứ 9 năm nay Hội VHNT Bạc Liêu lại tiếp tục đăng cai tổ chức, cùng liên kết với hai Hội VHNT Cà Mau và Sóc Trăng. Đêm thơ chính thức diễn ra vào lúc 20 giờ tối ngày 16.02 ( ngày 14 tháng giêng âm lịch ), nhưng trước đó, sáng và chiều ngày 16.02 đã lần lượt diễn ra hai cuộc thi ảnh đề thơ và viết thư pháp ( cả chữ Việt và chữ Hán ).
Sau đây là một số hình ảnh của HTK “chộp” và HTK qua ống kính bè bạn trong ngày thơ Việt Nam lần thứ 9 tại Bạc Liêu.
Hơi thở mùa xuân vẫn còn bên song cửa, HTK kính chúc quý bạn đọc, bạn viết và thân hữu năm mới sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt.
Trân trọng cảm ơn!
* Ghi thêm điểm dương ( + ) cho Hội VHNT Cà Mau: Tất cả 45 bức ảnh đề thơ ( cả ảnh đạt giải và ảnh trưng bày ) của ba Hội VHNT Cà Mau, Sóc Trăng và Bạc Liêu ( mỗi Hội chọn 15 ảnh ) đã được Hội VHNT Cà Mau mang từ Bạc Liêu về. 9 giờ sáng ngày 20.02, tại Chuông Gió càfê ( quán càfê rất thanh lịch, khá nổi tiếng ở thành phố Cà Mau ), đã diễn ra lễ khai mạc triển lãm ảnh đề thơ. Đây cũng là điểm nhấn của Chuông Gió càfê ở nửa cuối tháng 2 này. Theo nghệ sĩ Nguyễn Thanh Sơn, chủ cửa hiệu càfê Chuông Gió, dự kiến cuộc triển lãm ảnh đề thơ sẽ bế mạc vào lúc 16 giờ ngày 27.02. Hy vọng tại lễ bế mạc, Hội VHNT Cà Mau sẽ rất vinh dự và nhiệt tình đón tiếp đại diện hai Hội VHNT tỉnh bạn là Bạc Liêu và Sóc Trăng. Hình ảnh trưng bày tại Chuông Gió càfê cũng sẽ được HTK post lên trong những entry thích hợp.
Một lần nữa HTK trân trọng cảm ơn sự ủng hộ của quý bạn đọc, bạn viết và thân hữu.
Ảnh 1: HTK qua ống kính PV Đài PTTH Sóc Trăng
Ảnh 2: HTK đang trả lời PV của PV Đài PTTH Sóc Trăng
Ảnh 3: HTK với Ngọc Trân - PV báo Bạc Liêu
Ảnh 4: HTK với nhà báo Nguyễn Văn Thanh - Tổng đạo diễn đêm thơ lần thứ 9
Ảnh 5: HTK với NSNA Trần Thanh Liêm - Tác giả vừa đạt giải A của UB TQLHCHVHNT Việt Nam năm 2010 với tác phẩm Đầm tôm mùa thu ( Trần Thanh Liêm nói: Nếu không cầm máy, người ta sẽ không biết mình là NSNA,hehehe )
Ảnh 6: Chuẩn bị thả thơ
Ảnh 7: PV các báo, đài PTTH đang ghi hình buổi sáng ngày 16.02 với cuộc thi ảnh đề thơ
Ảnh 8: “ Ông đồ” Huỳnh Thăng - Cà Mau ( bút danh ) đang chuẩn bị cho chữ
Ảnh 9: Nghệ sĩ Việt Tiên mở đầu chương trình của đơn vị Cà Mau bằng tác phẩm Hạnh ngộ đầu năm của Hồ Thanh Ngân
Ảnh 10: Nghệ sĩ Khởi Huỳnh ( Cà Mau ) đang “ phiêu” cùng thơ Nguyễn Ngọc Tân với hình ảnh mở đầu bài thơ thật ấn tượng “ Đất nước mình thắt lưng hình con cá ngựa”
Ảnh 11: Nhạc sĩ Nguyễn Ngọc Để ( Cà Mau ) đang trình bày chính tác phẩm của mình phổ nhạc
Ảnh 12: Khi chương trình kết thúc, các nghệ sĩ của cả 3 Hội VHNT Cà Mau, Sóc Trăng, Bạc Liêu bước ra chào khán giả, khép lại Ngày thơ Việt Nam lần thứ 9 do Hội VHNT Bạc Liêu đăng cai tổ chức. So với lần phối hợp 2 năm trước, Ngày thơ Việt Nam lần này được đánh giá “ hoành tráng hơn, chất lượng hơn” .
Hẹn gặp lại Ngày thơ Việt Nam lần thứ 10 do Hội VHNT Cà Mau đăng cai tổ chức, sẽ diễn ra tại TP Cà Mau, dự kiến đúng vào dịp Nguyên Tiêu 2012.
Trân trọng cảm ơn!
*Ảnh được thực hiện bởi Huỳnh Thúy Kiều và NSNA Nguyễn Minh
Chúc quý bạn đọc, bạn viết một năm mới an lành, hạnh phúc!
Còn thương rau đắng…
Tạp văn HUỲNH THÚY KIỀU

Hồi tôi còn học trường làng, trước khi chuẩn bị nấu cơm, mẹ thường sai anh tôi đi thăm lưới, thăm câu để xem có cá không; còn tôi thì hái rau nấu canh hoặc để ăn sống. Nông thôn ngày xưa mà, có gì dùng nấy, không bán chác như bây giờ. Còn chuyện ăn thịt heo thì… đến Tết mới có, họa hoằn lắm là đám tiệc mới được dịp thưởng thức. Đơn điệu như thế đó nhưng thăm thẳm trong lòng tôi vẫn dồi dào tình cảm và chan chứa ân sâu. Chứ không phải “ kinh tế” như hôm nay đâu, có người đem mấy lọn rau lang, rau cần nước, rau húng, dăm con cá, thậm chí bắt cá cả lòng ròng ( cá lóc con khi vừa mới sinh ) đem ra chợ bán. Đúng là thời buổi kinh tế thị trường có khác.
Nói như thế để thấy cơ chế của thời kỳ đổi mới đã tác động mạnh mẽ như thế nào đến đời sống của bà con quê mình. Vừa mừng, vừa lo. Chỉ hy vọng là dù có thay đổi đến đâu thì cũng nên cố gắng gìn giữ nếp văn hóa xưa vậy.
Quay lại cái chuyện hái rau. Thời điểm không khí se lạnh là lúc rau đắng đất bắt đầu xuất hiện. Đầu tiên là ở mép đất non quanh các ao, hồ gần nhà. Đến khi thu hoạch lúa xong là chúng đã mọc dày ở các rãnh thoát nước khai thông cho dòng chảy trên mặt ruộng. Nhớ “ Còn thương rau đắng mọc sau hè” của nhạc sĩ Bắc Sơn hết biết!
Rau đắng có hai loại. Rau đắng biển và rau đắng đất. Loại mọc quanh năm suốt tháng dưới ao xem xép nước hay trên rìa mương lầy lội bùn đất là rau đắng biển. Cũng giống như các loại rau đồng khác, rau đắng biển ở chợ vẫn có bán hàng ngày và không đắt giá, dễ ăn, tính lành, ta có thể luộc, xào hay nấu canh đều được. Nhưng cũng không nên ăn nhiều vì dễ đau bụng lắm đó! Còn rau đắng đất chỉ mọc vào mùa khô và hay ăn kèm với món cá lóc nấu cháo tống. Ngon tuyệt! Đã nói như thế này rồi thì cũng phải dông dài một chút cho bạn tận tường cái mùi cháo đặc trưng Nam bộ. Tháng này, các ao đìa đã có cá lóc bự rồi. Nếu chúng ta ở thành thị thì phải mua tất, cả cá, cả rau.
Sau khi cá lóc được đánh vảy, cạo nhớt sạch sẽ thì khứa đầu cá để riêng, phần còn lại cắt nhỏ ra, ướp gia vị gồm tiêu, đường, bột ngọt, nước mắm ngon, gốc hành băm nhuyễn và một muỗng mỡ nước, nhớ dùng đũa trộn đều lên cho thật thấm nhé. Vo một ít gạo nấu cháo, khi hạt gạo nở ra, ta cho đầu cá vào, tiếp tục nấu cho đến khi đầu cá chín, xắt vài lát gừng thành sợi bỏ vào để ăn cho ấm bụng. Tùy khẩu vị của từng người mà nêm nếm cho vừa ăn là được. Bây giờ cái bếp ga mini đã trở nên phổ biến rồi. Thử tưởng tượng xem, năm bảy người bạn quây quần bên nhau để thưởng thức món cháo tống ăn kèm với rau đắng đất, ăn đến đâu, bỏ cá đã cắt nhỏ lên nồi cháo đang sôi sùng sục đến đó, chú ý: cá vừa chín tới là ngon nhất ( bỏ một ít rau đắng đất vào chén trước khi múc cháo lên ).Húp cháo nhễ nhại mồ hôi, lâu lâu đánh “chóc” ly rượu đế quê hương rồi “khà” lên một tiếng, ngon hết biết! Riêng bộ lòng cá thì người có uy tín nhất trong bữa rượu mới được dùng, nếu không, có đổi 5 ly rượu đế chưa chắc đã được sở hữu. Dân dã là thế!
Một chiều cuối tuần nào đó, trong tiết trời se lạnh, rủ bạn bè nâng cốc bên nồi cháo tống ăn kèm rau đắng đất để mà thương, mà nhớ. Ăn nhưng vẫn còn nghe văng vẳng bên tai những câu hát chạnh lòng:
“ Nắng hạ đi/ mây trôi lang thang cho hạ buồn/ để một mình ngồi/ chợt thèm/ rau đắng nấu canh…”
H.T.K
50 năm tạp chí Lúa Vàng - đầy ắp kỷ niệm
Bài và ảnh: Huỳnh Thúy Kiều
Chiều qua ( 30.12 ), lúc 14 giờ tại hội trường Tỉnh ủy Cà Mau, Hội VHNT tỉnh Cà Mau đã kết hợp với Hội VHNT tỉnh Bạc Liêu long trọng tổ chức lễ kỷ niệm 50 tạp chí Lúa Vàng ra số đầu tiên 1960 - 2010, tiền thân của tạp chí Văn nghệ Cà Mau và Văn nghệ Bạc Liêu hiện nay.
Trải qua 50 năm trưởng thành, nhiều cây bút tài năng xuất thân từ tạp chí Lúa Vàng đã tạo được chỗ đứng trong lòng bạn đọc bằng chính những trang viết đầy xúc cảm của mình. Năm 1960, nhiều tác giả đã tay cầm súng, tay cầm bút quyết đấu tranh trên cả hai mặt trận, vừa đối diện với kẻ thù trên chính mảnh đất quê hương mình, vừa cày chữ để cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân và dân tỉnh nhà trong phong trào Đồng Khởi…
Tại buổi lễ kỷ niệm 50 năm tạp chí Lúa Vàng, nhiều ký ức và hình ảnh đẹp như những thước phim quay ngược thời gian để mọi người cùng hoài niệm… Từ tạp chí Lúa Vàng, qua nhiều lần thay tên đổi họ và chia tách tỉnh như Văn nghệ Minh Hải, tạp chí Bán đảo Cà Mau ( của Hội VHNT tỉnh Cà Mau ), tạp chí Dạ cổ Hoài Lang ( của Hội VHNT Bạc Liêu )… và nhiều cây bút tên tuổi qua từng thời kỳ cũng được khơi gợi lại trong anh em văn nghệ sĩ từ chiếc nôi “ Lúa Vàng” đầy ắp kỷ niệm như: Nguyễn Hải Tùng, Nguyễn Kiên Định, Lê Chí, Nguyễn Bá, NSNA Võ An Khánh, họa sĩ Văn Nhiệm, Nguyễn Thanh, Nguyễn Minh Nối… rồi đến Lê Đình Trường, Duy Hoàng, Phan Trung Nghĩa, Hoàng Anh Việt… Giờ đây, lực lượng viết trẻ được bổ sung và kế thừa cho văn nghệ Cà Mau như Nguyễn Ngọc Tư, Lê Minh Nhựt, Huỳnh Thúy Kiều, Huỳnh Văn Út. Ở văn nghệ Bạc Liêu cũng vậy, Huỳnh Thị Ngọc Yến, Tú Nhã, Lâm Tẻn Cuôi… cũng đã góp phần tạo ra lực lượng kế thừa hùng hậu cho văn nghệ Cà Mau - Bạc Liêu hiện tại.
Sau đây là những hình ảnh đã được Huỳnh Thúy Kiều “ chộp” tại buổi lễ kỷ niệm 50 năm tạp chí Lúa Vàng ra số đầu tiên 1960 - 2010. Mời quý bạn đọc, bạn viết và thân hữu xem và góp ý.
Năm dịp năm mới, Huỳnh Thúy Kiều kính chúc quý bạn bè và thân hữu lời chúc ân cần nhất, tốt đẹp nhất từ xa xôi Mũi Cà Mau.
Trân trọng cảm ơn!
Ảnh 1
Ảnh 2
Ảnh 3
Ảnh 4
Ảnh 5
Ảnh 1,2,3,4,5: Tạp chí Lúa Vàng ngày xưa và Tạp chí Văn nghệ Cà Mau, Tạp chí Văn nghệ Bạc Liêu hiện nay
Ảnh 6
Ảnh 7
Ảnh 8
Ảnh 6,7,8: Không gian trưng bày Tạp chí Văn nghệ Cà Mau và Văn nghệ Bạc Liêu tại buổi lễ kỷ niệm 50 năm Tạp chí Lúa Vàng
Ảnh 9: HTK “chụp cự ly gần” không gian buổi lễ
Ảnh 10: Đồng chí Lê Huỳnh Kỳ ( giữa ), Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Cà Mau trao bằng khen của Ủy ban Toàn quốc LH các Hội VHNT VN cho đại diện Hội VHNT Cà Mau - nhà văn Lê Đình Trường - Phó Chủ tịch Hội ( trái ) và đại diện Hội VHNT Bạc Liêu - nhà báo Nguyễn Văn Thanh - Phó Chủ tịch Hội VHNT Bạc Liêu ( phải )
Ảnh 11
Ảnh 12
Ảnh 11,12: Lãnh đạo Sở VH-TT và DL tỉnh Cà Mau, nhà văn Nguyễn Thanh và nhà báo Nguyễn Văn Thanh trao kỷ niệm chương vì sự nghiệp VHNT cho các văn nghệ sĩ tại buổi lễ kỷ niệm 50 năm Tạp chí Lúa Vàng
Thư mời "BÀ" Huỳnh Thúy Kiều của chủ tịch Hội VHNT Cà Mau do chủ tịch hội NSNA TRƯƠNG HOÀNG THÊM ký
Bí ẩn em nằm trong lòng tay nắm
Như con tàu hoang phế lạnh sân ga
Ô chữ nhỏ tan nhanh trôi vào đêm mờ mịt
Đào ký ức lên
Xới cho tơi xốp những gam buồn
H.T.K

Bài và ảnh: HUỲNH THÚY KIỀU
Cách đây hơn nửa tháng, vào một buổi chiều trung tuần tháng 10, tôi nhận được cuộc gọi từ số điện thoại lạ, đầu dây bên kia là một giọng nam, tiếng nói - theo sự phán đoán của tôi, hình như là giọng miền Trung là phải. Thì ra đó là cuộc gọi của nhà thơ H.Man, trưởng đại diện của NXB Văn Học khu vực miền Trung và Tây Nguyên. Sau một phút bất ngờ, tôi hỏi nhà thơ H.Man sao biết số điện thoại của tôi, anh trả lời rằng, bạn bè có số của tôi thì anh cũng có, đơn giản vậy thôi. Anh nói anh là thành viên trong ban tổ chức và tuyển chọn thơ in trong tuyển tập thơ VỀ NGUỒN của huyện Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam - một công trình quy mô và đồ sộ chào mừng 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội. Anh xin địa chỉ của tôi để gởi sách tặng vì tôi là một trong số rất nhiều tác giả có thơ được chọn in trong tập VỀ NGUỒN này. Niềm vui và xúc cảm kỳ lạ đến mãnh liệt dâng lên trong tôi, bởi tôi không gởi bài cộng tác nhưng có bài được chọn in là một vinh dự rất lớn cho cá nhân tôi. Ngoài ra, anh H.Man còn hỏi thêm, tôi ở Cà Mau chắc gần nhà thơ Linh Phương ( Kiên Giang ), nếu tiện, anh sẽ gởi chung tuyển tập cho anh Linh Phương nhờ tôi chuyển giúp. Tôi đã vui vẻ nhận lời và chờ sách trong sự háo hức như trẻ con đón mẹ đi chợ Tết về vậy.
Niềm vui của người viết như thế đó bạn ạ!
Và hôm nay tôi cũng đã nhận được sách. Cầm tập sách trên tay mà tôi nghe lòng mình có một sự hân hoan đến khó diễn tả. Hơn 1.000 trang sách đã nói lên sự trang trọng và kỳ công của những người trong BTC. Sau Lời nói đầu là bản chữ Hán và bản dịch ( trích ) Chiếu dời đô năm 1010 của Lý Thái Tổ, rồi Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt. Từ thơ của cụ Nguyễn Du cho đến Tản Đà, từ Nguyễn Đình Chiểu cho đến Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, từ thơ Bích Khê cho đến Huy Cận, Xuân Quỳnh… Tôi thật sự xúc động đến nghẹn lòng. Nói như thế để thấy tổng quan văn học nói chung và riêng thơ Việt đã có quá trình kết nối và phát triển qua hàng ngàn năm, từ cổ chí kim.
Thế nhưng, niềm vui đã không trọn vẹn. Tôi đã bị sốc với bản in bài thơ HƠI THƠ TÔI MANG MÙI BÙN ĐẤT. Có một sự nhầm lẫn đến tại hại. Bài HƠI THỞ TÔI MANG MÙI BÙN ĐẤT được in một cách “ hoành tráng” ở hai trang 526 và 527. Nhưng than ôi! Bài thơ trên được ghép từ đoạn đầu của bài này với đoạn sau của bài ĐÊM THÀNH PHỐ cũng của chính tôi. Thú thật với quý bạn đọc, tôi choáng váng và buồn đến ứa nước mắt. Bạn đừng cực đoan mà cho rằng tôi đã không gởi bài cộng tác, có thơ được chọn in trong tuyển tập quy mô như thế là “ may” rồi, ở đó mà còn buồn và bức xúc gì nữa? Xin thưa, nếu bạn là tôi, có thể bạn còn buồn nhiều hơn nữa đó…
Bất kỳ một việc làm, một công trình nào cũng không thể chủ quan mà cam đoan là hoàn hảo ở mức tuyệt đối được. Ở mảng sách cũng vậy, vẫn có phạm vi sai sót cho phép mà. Tuy nhiên, một quyển sách được sự đầu tư cẩn thận, là một công trình chào mừng Đại lễ 1.000 năm Thăng Long Hà Nội, là một tác giả có thơ được tuyển chọn, đáng ra tôi không cho phép mình buồn, nhưng như thế là tôi không nói thật lòng mình rồi. Tôi mong rằng với một ấn phẩm văn hóa hơn 1.000 trang như thế, chỉ riêng cá nhân tôi bị sự cố này thôi, nó sẽ như một hạt sạn thật bé để không phải ai cũng có thể nhận ra và buồn như tôi hiện tại. Nhưng, lấy gì bảo chứng rằng, trong hơn 1.000 trang in của quyển sách, ngoài sự nhầm lẫn của bài thơ tôi, tất cả còn lại đều chuẩn xác?
Nói đúng lòng mình, tôi đã đón nhận VỀ NGUỒN bằng một nỗi buồn rất thật. Và, tôi cũng đã tự an ủi mình rằng, biết đâu đến khi kỷ niệm 2.000 năm Thăng Long - Hà Nội, bài thơ này sẽ được in lại một cách chính xác đến từng câu chữ.
Cà Mau, những ngày mưa dầm đầu tháng 11.2010
HƠI THỞ TÔI MANG MÙI BÙN ĐẤT
( Bản in trong tuyển tập thơ VỀ NGUỒN )
Sực nức cánh đồng mùi khói rạ rơm
Mùa đìa cạn cá tung lên hứng khởi
Tôi được sinh ra nơi đất rừng huyền thoại
Đêm phương Nam buồn
Phím nhạc cũng chùng rơi.
Hơi thở tôi mang bùn đất quê nghèo
Nuôi khôn lớn từ tán bần, nhánh ổi
Rặng trâm bầu
Rứt lòng bổi hổi
Dòng sông thơ chảy dọc tháng năm dài.
Tiếng sáo thả
Bậu về bên ấy
Cuốc kêu chiều
Khoắc khoải giọng cố hương.
Từng chang đước dậy mình ôm biển mặn
Rừng tràm thơm gọi ong mật quay về.
Con vạc sành réo cao vút ngọn tre
Chao chao vành nón lá
Ngẩn ngơ hoài
Thầm gọi
Dấu yêu ơi!
Đời người phận bạc về đâu?
Cộng thêm tiếng rao hàng khuya lơ khuya lắc
Trăng đuối sức ngưng phơi màu vằng vặc
Khép vội mi hờ chết giữa áng mây đen
Thành phố rồi dần mất thân quen
Láng giềng nhau ra vào khép cổng
Đêm lỡ đường lóng ngóng
Bờ rào thôi cũng cáu mắt nhìn
Đêm thành phố rất dài
Dài như không thể có tiếng gà báo buổi bình minh…
HƠI THỞ TÔI MANG MÙI BÙN ĐẤT
( Nguyên bản của tác giả )
Sực nức cánh đồng mùi khói rạ rơm
Mùa đìa cạn cá tung lên hứng khởi
Tôi được sinh ra nơi đất rừng huyền thoại
Đêm phương Nam buồn
Phím nhạc cũng chùng rơi.
Hơi thở tôi mang bùn đất quê nghèo
Nuôi khôn lớn từ tán bần, nhánh ổi
Rặng trâm bầu
Rứt lòng bổi hổi
Dòng sông thơ chảy dọc tháng năm dài.
Tiếng sáo thả
Bậu về bên ấy
Cuốc kêu chiều
Khoắc khoải giọng cố hương.
Từng chang đước dậy mình ôm biển mặn
Rừng tràm thơm gọi ong mật quay về.
Con vạc sành réo cao vút ngọn tre
Chao chao vành nón lá
Ngẩn ngơ hoài
Thầm gọi
Dấu yêu ơi!
Thằng bé mục đồng bó gối chơi vơi
Đàn trâu mộng tanh mùi hôi cỏ diệt
Đành rã bầy
Vụn chiếc trống thiếu da
Đây châu thổ đón lũ góp phù sa
Hạt gạo nở ngọt ngon từ ruột đất
Ai nặng nợ với tuổi đời cơ cực?
Ai vác chữ đi lên trong khó nhọc?
Bừng sáng trái tim lối nhỏ dắt ta về
Một khát vọng xanh…

Mây màu gụ đắp chiều lên ụn gió
Mượn bàn tay kết mùa cho nỗi nhớ lặng im
Nhặt mưa thu tưới mềm bóng nắng
Cột giấc vô tình để hư ảo người thánh thiện hơn
H.T.K

(Xem tiếp)

Đường bay của những cánh chim
mang thông điệp hòa bình
HUỲNH THÚY KIỀU
Cánh chim mang thông điệp hòa bình vút vào không trung bằng những đường bay vô tận, bỏ lại đồng lúa gối đầu lên xanh bìa rừng gọi nước. Đàn cua tám cẳng hai càng bò dọc bò ngang qua mớ rau mọc hoang ở khu vườn tạp hình như lâu rồi chưa có người nào chịu quay về dọn cỏ
Bồ câu khóc mái ngói âm dương không được trùng tu vừa bị đổ sập sau bản tin dự báo thời tiết có gió giật trên cấp tám của thời sự VTV lúc 19 giờ - nơi bồ câu bố mẹ gù nhau suốt mùa giao phối để sinh ra nhiều, thật nhiều những bồ câu con mang lớn hơn khát vọng hòa bình cho thế giới
Con chó đá có linh hồn bỗng dưng cụp đuôi im bặt tiếng gâu gâu khi thiên tai ghé thăm bất ngờ không hẹn trước
Giấc mơ tựa vầng trăng khuyết lúc chưa rằm
Mượn đôi mắt trẻ thơ để nhìn cuộc sống trong veo qua từng mùa cổ tích. Những bồ câu non chưa một lần được phóng sinh có thể bị hội chứng hoảng loạn sau quá nhiều tai nạn máy bay như con người mắc chứng trầm cảm trong nhịp quay điên cuồng của đời sôi động
Giấc mơ vẽ những cánh chim bay thẳng lên thiên đường không nên tin là điều có thật
Mọi suy nghĩ về thế giới bắt đầu đảo ngược. Tìm đáp án của một phương trình nhiều căn bậc. Ẩn số x, y, z... vẫn còn đang xếp dàn mặt trận...
Lại bắt đầu đường bay mới
Những cánh chim luôn mang thông điệp hòa bình
Giấc mơ
Dù khoảng cách quá xa mới đến gần sự thật
Cà Mau, 25.9.2010
H.T.K
Trung thu quê nghèo đâu rồi những nia, thúng đựng trăng?
Giấc ngủ mớ đèn ông sao cá chép
Trẻ con thành phố cầm chiếc lồng như nhốt chùm trăng công nghiệp
Tôi khóc riêng mình vì vô tình để lở loét bờ ca dao
H.T.K

(Xem tiếp)

Một lần gặp duy nhất với 15 phút để bàn công việc là quá hiếm hoi. Chính sự hiếm hoi đó, nên có những điều mà tôi phải trao đổi lại thêm với anh về bản thảo tập thơ qua email. Anh nói với tôi anh sẽ làm hết sức khi nào tôi thật ưng ý với bìa và cách trình bày thì thôi. Nói nghe đơn giản vậy, nhưng khi ý tưởng của tôi và anh " chênh nhau", thì không dễ dàng chút nào; tôi thuộc dạng " cứng đầu và ương bướng" nên về sau, anh có vẽ bớt hứng thú. Tập GIẤU ANH VÀO CỎ XANH rồi cũng được hoàn thành và ra mắt bạn đọc; lúc nhận được tập thơ tôi gởi tặng, anh đã nói với tôi, một khi tôi ưng ý về tập thơ, thì mọi vấn đề mà anh em đã tranh luận trước đây đều là chuyện nhỏ. Hồi giữa cuối tháng 7 này, sau khi trở về từ trại sáng tác ở Bến Tre, tôi đã gấp rút đưa ông bố đi SG tái khám cho đúng lịch; trên đường trở lại Cà Mau, tôi có nhắn tin cho anh, nói rằng mình đang từ SG về, anh bảo tôi lúc nào cũng vội hết, thôi, hẹn lần sau gặp, sẽ "oánh nhau" giữa chợ vậy.
H.T.K

(Xem tiếp)
Nấm mối được mọc lên từ đất, có lẽ do được mọc lên từ đất nên nấm mối đã hút hết tinh túy của đất, nấm mối ngọt một cách lạ lùng, tôi đồ rằng, khi chế biến các món ăn từ nấm mối, người ta không phải dùng nhiều chất phụ gia đâu. Và tôi cũng cam đoan với bạn, ngồi trước món ăn đầy " mời gọi" này, khi " gắp" xong một đũa nấm mối cho vào miệng, bạn không thể nào không " gắp" đũa thứ hai, bởi nấm mối ngọt như mật của đất, thơm như hương của trời bạn ạ. Tôi đã " đánh chén" mật của đất, hương của trời nên tôi đã say chếch choáng trong hương nấm mối ở Bến Tre.
H.T.K
(Xem tiếp)
Một buổi chiều cuối hạ, người viết văn sồn sồn và người làm thơ trẻ ngồi với nhau, uống mấy ly rượu với bao nhiêu chuyện đời, chuyện nghề, thật tình đã làm phong phú thêm suy nghĩ của tôi biết bao. Trước khi chào chú ra về, chú nói để chú gọi và chuyển máy cho tôi nói chuyện với nhà văn TTĐ. Khi bước ra thềm nhà, tôi lại hẹn hôm nào con lại ghé chú, trước khi ghé, con sẽ điện thoại trước, chú nói " mấy người cứ ghé lúc nào cũng được, không cần điện trước, tui nghỉ hưu rồi, có đi đâu đâu". Nghe vậy, chạy xe về mà tôi cứ luôn bị ám ảnh câu nói đó của chú mãi, cứ bùi ngùi...

(Xem tiếp)
Xin trời mưa cho lá mạ xanh màu
Châu thổ lúa bao giờ xanh ruộng?
Mịt mùng sóng hoắc khô từng vại rau muống
Gọi tên Trường Sa nghe thương nhớ cứ rủ nhau về...
H.T.K
(Xem tiếp)
Xanh lóng ngóng bờ cỏ non đói gió
Sợ lạc rằm nên ngựa cũng chồn chân
Eo lá nhớ võ vàng treo sợi nắng
Sương so le thả trắng giấc mây chiều
H.T.K

(Xem tiếp)
Pha giấc mơ vào quê hương để giữ ngọt tiếng đồng bằng
Vạt áo đau nhét đầy bụi khói
Tấm chăn chiều vét hết trời xanh và cỏ dại
Bàn tay run ...
Cầm con sóng mồ côi nức giọng gọi tím lục bình
H.T.K

(Xem tiếp)
cố không khóc khi nghe Bảo Yến hát " Anh còn nợ em" mà sao
nước mắt cứ rơi ướt bàn phím
buồn lặn sâu hương tóc
bàn tay lần đêm tìm chữ
em gặp lại mình qua bóng nắng thần tiên
H.T.K
(Xem tiếp)
Cuối trời em gởi tự khúc hôm nay
Còn tự khúc ngày xưa vắt hờ bên giậu cũ
Hồng Hà thương Cửu Long đầu nguồn sông chìm uống lũ
Những con rạch miền Tây dìm sóng đợi anh về
H.T.K

(Xem tiếp)
|
Đọc thơ Huỳnh Thúy Kiều " Giấu anh vào cỏ xanh"
Đọc thơ là một sự phiêu lưu trong sự đổi mới, một hành vi sáng tạo, sự khởi thủy miên viễn, tái sinh sự ngạc nhiên. Khởi thủy không chỉ là một hành động - Edward Said viết - nó cũng là cái tâm cảnh, một loại công tác, một thái độ, một ý thức. {Reading poetry is an adventure in renewal, a creative act, a perpetual beginning, a rebirth of wonder. Beginning is not only a kind of action - Edward Said writes - it is also a frame of mind, a kind of work, an attitude, a consciousness}. " Giấu anh vào cỏ xanh " đã được Nhị Ka viết một bài nhận xét với thái độ dè dặt và thận trọng, nên Ca Đại, hay Đại Ca (gọi tắt K.Đ ) phải viết thêm bài này, với bản chất và thái độ của một người vốn chẳng coi ai ra gì, dù già trẻ hay lớn bé, dân dã hay chức tước, nên cứ nói ngay nói thẳng, mất lòng thì chịu. Đồng ý với Nhị Ka là tập thơ chia ra làm hai phần, từ bài 1 đến bài 16, cứ coi là phần thứ nhất, bỏ đi không nói đến. Vì nó đụng chạm đến những điều kị húy của riêng chúng tôi hay nhóm Bông Giấy cũng được, một là đất nước thái bình hơn 30 năm rồi nên không nhắc đến chiến chinh nữa. Hai là huyền thoại Lạc Long Quân - Âu Cơ chẳng hay ho gì nên vứt đi, chuyện con người đẻ trứng là súc vật, nở trăm con không bao lâu ông bà chia tay, bà dẫn 50 lên non, ông đưa 50 xuống biển. Có gia đình nào sống hạnh phúc mà lại chia ly, vậy thì trước khi chia tay nhau đã xảy ra bao nhiêu chuyện hục hặc, đấm đá, chưởi bới... Sự kiện đó đã để lại cho dân tộc và đất nước bao chua cay, chia rẻ, đố kỵ...;nên mỗi khi có người nhắc đến con rồng cháu tiên là một sự sỉ nhục chứ chẳng hay ho gì, là kẻ thức giả nên biết điều đó. Có thể Ca Đại nói bậy, thì đó cũng là dĩ nhiên vì bản chất nó hay nói bậy nên ai muốn nghe thì nghe không thì thôi chứ không có tranh luận ở đây. Bây giờ hãy trở lại với thơ trong phần hai là từ bài thứ 17 trở đi, là bài " Giấu anh vào cỏ xanh", cũng là nhan đề của tập thơ. Nhị Ka cũng đã nhẹ nhàng liên hệ với những câu thơ trong truyện Kiều. Nhưng tôi thì phải xét kĩ những câu thơ trong bài này trước khi phân tích những câu thơ khác của HTK. Tên người vốn có liên hệ đến cả cuộc đời, nên không trách Thúy Kiều hay nói đến cỏ xanh, thì thúy là màu xanh biếc ở lông đuôi của loài chim bói cá, hơn nữa dân ở nông thôn như gắn liền với cây cỏ xanh. Nhưng giấu người yêu trong mùa xanh của cỏ, chờ đến chín mọng một mai sau, thì còn dùng được vào đâu . Nhìn chung giấu trong cỏ rồi giấu với mưa bay, chắc con người đã thành đồ vật bỏ túi, nên giấu được trong lần tay áo, dẫu có thành búp bê vẫn là con người thu gọn với phép màu là nó sinh từ trứng cũng được đi, nhưng đến khi giấu vào tóc, có sợi chẻ hai, trói lang thang trong từng khoảnh khắc, nhớ mùi thơm mà biết lối tìm về, ý tưởng và hình ảnh khá hay, nhưng con người thành con chí rồi, và cuối cùng là giấu anh vào đất là chôn thể xác sao. Nhưng phân tích thơ theo lý tính là giết chết thơ, không còn thơ nữa mà thơ là phi lý tính, thơ là tiếng nói của nội tâm, tiếng nói của tình cảm. Thế giới của thi ca là thế giới thần bí, phi thuần lý, phi thực tế, thuộc về sự thô lậu của thần thoại. Người ta có thể định nghĩa trái lại, thi ca như là lý trí cao cả, mà lý trí cộng đồng không có khả năng. Cái giá trị đặc biệt của nó, với tính cách là công cụ nhận thức chính xác sinh ra điều nó sáng tạo như trong bầu trời riêng biệt, trong kích thước của sự vật không có lý lẽ suy luận; hoạt động của thi ca từ chối và hỗn hợp cái vô lý tính của lý tính con người mà nó tin đó là sở hữu cái bản chất của sự vật. Cho nên hình ảnh người yêu biến dạng thành đủ thứ có thể giấu được, để :
Khi buồn có bận ngóng trông Ngước mắt nhìn đâu cũng dông bão Bừng lên vệt sáng chân trời
Có điều làm tôi vô cùng ngạc nhiên, là ở cái xứ Đất Mũi cùng tận xa xôi, tôi cũng chưa đến bao giờ, nghe đâu muỗi và đỉa là nhiều không chê, mà sao lại có được một nhà thơ nữ thuộc thế hệ gần 8X khá xuất sắc. Ngay ở phần một trong tập thơ, tôi chê không muốn nhắc tới, nhưng khi bất chợt đọc hai câu trong bài " Đi tìm dấu cỏ" cũng phải giật mình: Nắng hoang dã đựng trời xanh quẫy gió Đêm trên cành rằm non rơi xuống vỡ ấu thơ Câu thơ đã được xây dựng với những hình ảnh quá đẹp và cầu kỳ, không phải ai cũng làm được và hiểu được. Trong ánh nắng hoang dã của đồng quê mộc mạc chứa đựng cả một bầu trời xanh, với những ngọn gió làm chao đảo vạn vật. Đêm nằm trên cành rằm là phải nhớ đến câu thơ của Hàn Mặc Tử " Trăng nằm sóng soải trên cành liễu, đợi gió đông về để lả lơi..." Non rơi xuống là non dại tự mình gây cho mình hay hoàn cảnh đẩy đưa đã gây ra sự đổ vỡ tuổi thơ. Nên không lạ, suốt cả phần hai trong tập thơ, chỉ một chữ "NHỚ' là bao trùm hết. Giấu anh vào cỏ xanh cũng chỉ vì nhớ mà thôi, tiếp theo " Đêm Sàigòn nằm nghe tiếng nhớ, Mắt mùa đông, Đông đang về gõ cửa ,v..v... Tài tình là đủ các thứ nhớ, mỗi cái nhớ đều khác nhau, tôi mơ màng rằng HTK có thể viết đến hàng trăm nỗi nhớ. Tôi không hề quen biết nhà thơ nữ Cà Mau này, nên không biết đã học thơ ở đâu, chịu ảnh hưởng thơ ai, trình độ học vấn ra sao, hay tự thiên phú, mà viết được những câu thơ tuyệt vời : Chiều rải vàng mang nhạt nắng đi qua Sao dốc nhớ bỏ miền thương trầm lặng? ( Ngày không anh ) Ngày tháng rộng dài ướp hy vọng vào hương khuya thầm kín Réo an lành khép cho trọn cuộc bể dâu ( Đêm Sàigòn nằm nghe tiếng nhớ )
Xé lòng câu thơ chào đời trước dông bão Gò ngực hoang gọi đêm đông ửng hồng tháng chạp ( Mắt mùa đông ) Tôi chỉ trích một đôi câu tiêu biểu, cái tuyệt vời ở đây trước tiên là sự cô đọng hàm súc với những hình ảnh đẹp : Chiều rải vàng , thật ra là ánh nắng vàng của trời chiều như trải ra, như mang màu vàng đi qua; nhưng do tác giả bố trí sắp đặt các từ trong câu làm cho nó có một ý nghĩa mới, để bùng nổ cái điều mà vũ trụ chối từ diễn tả bằng ngôn ngữ minh bạch. Chiều ở đây không còn cái thông dụng của chiều thiên nhiên, mà nó đã thành chủ từ chủ thể, mỗi độc giả có quyền tái sáng tạo theo quan điểm của mình. Theo tôi thì Chiều ở đây chính là hình ảnh của tác giả, tự thấy cuộc đời của mình cũng đã ngả về chiều, mang nhạt nắng đi qua là hình ảnh của một thân phận cô đơn lạnh lẽo. Sao dốc nhớ bỏ miền thương trầm lặng? Muốn lãnh hội được ý nghĩa câu này thì phải ý thức rằng " ngôn ngữ của thi ca là ngôn ngữ của ráp nối", nó thuộc về kiếp sống phù du mà lại mơ tưởng những hình thức vĩnh hằng, ca tụng những vẻ đẹp ảo bí và cái cá thể sâu xa, bằng cách khơi dậy sự im lặng và thương xót cho sự lầm lẫn. Đặt mọi vật trong sự liên hệ, nó chống lại sự chia cách, kết hợp bằng công việc của những phù hiệu hiện diện thay thế cho sự vắng mặt, sự vĩnh cửu và nhất thời, nó sáng chế ra một không gian ca tụng, ở đó có thể xen vào sự kêu ca phàn nàn (lời của J. Michel Maulpoix, thấy rất thích hợp cho sự diễn tả ý thơ, nên KĐ dịch ra mượn dụng), Sao bên dốc hố nhớ thương sâu xa phải giấu đi trong trầm lặng như cố tình xóa bỏ, như chưa có đợi chờ. Mà rồi có xóa bỏ được đâu, vì: "Bốn mùa thổi vào em thông thốc gió ....... Ngày không anh Em giặt giũ nỗi buồn Trắng tinh phiền muộn Phơi vào đêm phần phật bão dông Đúng là trong thái độ im lặng tìm một ngôn ngữ, một hình ảnh để diễn tả, hình ảnh giặt giũ nỗi buồn, hết phiền muộn thành trắng tinh, phơi vào đêm phần phật bão dông, cố giấu vẫn như hiển hiện những sự đay nghiến giày vò... Vậy phiền muộn có trắng tinh không, hay mãi mãi.... Tính hàm súc là câu thơ ít lời mà nhiều hình ảnh, lắm ý tứ. Thơ đúng nghĩa là hình ảnh, là ẩn dụ kín đáo, chính đó là sức hấp dẫn, là cái ma lực của tác phẩm. Những câu tiêu biểu của HTK vừa trích dẫn ở trên vô cùng kín đáo, xin nhắc lại :
Xé lòng câu thơ chào đời trước dông bão Gò ngực hoang gọi đêm đông ửng hồng tháng chạp Câu thơ này là câu thơ mộc mạc đến tận cùng xé lòng viết cho anh, nó hồn nhiên ngây ngô như giây phút em chào đời trước dông bão - dông bão này khác với dông bão của đay nghiền dằn vặt mà là đầy tai ương của cuộc đời. Gò ngực hoang là ôm ngực hoang dại, tức tối đau khổ thất vọng, cất tiếng kêu gọi trong đêm đông là hình ảnh kêu gọi trong sự cô đơn lạnh lẽo, tuy nhiên vẫn đầy hi vọng vì là đêm đông của tháng chạp, phía chân trời xa chắc chắn có ánh bình minh ửng hồng. HTK, theo tôi còn có một tài đặc biệt, là biết vận dụng những động từ như trong hai câu nêu trên : Ngày tháng rộng dài ướp hi vọng vào hương khuya thầm kín Réo an lành khép cho trọn cuộc bể dâu. ( Đêm Sàigòn nằm nghe tiếng nhớ ) Mưa tưới chiều vội vã Bến ngây ngô giọt nước đậu cánh buồm ... Thân trần trụi tiễn heo may vào khuya trở rét ( Mắt mùa đông ) Những động từ ướp, réo, khép, tưới, đậu, tiễn, vv...có tác dụng như là những nhãn tự làm cho hình ảnh trong thơ vô cùng sống động . Hay những câu như : Ngực phù sa đẫm hương bùn anh cứ nhấm nháp từng nhịp đập Và em sẽ chẳng đi lạc con đường trăng khuyết tới hừng đông ( Không đề cho anh ) Và nhà thơ trước hết là người thợ ngôn từ, người thực hiện, tạo hình ngôn ngữ (The poet is first of all a language worker, a marker, a shaper of language.)Bài thơ là một hành vi vượt ra ngoài ngữ nghĩa ngôn từ, bởi vì những gì đang được nói đến luôn luôn tách ra khỏi cái cách mà nó đang nói. The poem is an act beyond paraphrase, because what is being said is always inseparable from the way it is being said. ( Edward Hirsch). Nôm na là ý tại ngôn ngoại. HTK chỉ cần trau luyện thêm cái thủ pháp " vị ngoại vi " hay "huyền ngoại huyền" tức là cái dư âm dư vị ở phía sau bài thơ là thơ của Đất Mũi sẽ toàn bích./. (7-2010) K.Đ ( Nguồn : Văn chương Việt ) |
Tiếng quê sà xuống bậc thềm, thềm dậy nắng bình yên
Cầu tre lỡ nhịp bắt ngang qua mùa trăng, con mương chưa kịp cũ
Nhắm mắt thấy mồ hôi cha đầm đìa luống mạ
Mẹ nhóm chiều, lửa hiện về lách tách với tuổi thơ
H.T.K

(Xem tiếp)
Đêm Bến Tre sắp xếp giấc mơ đặt chật ních căn phòng
Tôi ghét tôi ấu thơ đã không tìm về thăm cố quán
Thở thật khẽ vì tôi sợ Bến Tre đau, Bến Tre hốt hoảng
Bóng trăng chen tàu dừa khua lá tràn bóng nắng quê hương
H.T.K
|
Powered by Vnweblogs

Bản in






















































